Nhiều người có thói quen nấu các loại thảo mộc, vỏ thân hay vỏ quả để uống thanh lọc cơ thể hằng ngày. Vỏ nho biển (Coccoloba uvifera) gần đây được chú ý trong dân gian, tuy nhiên việc dùng nước sắc dược liệu đậm đặc cùng lúc với bữa ăn hoặc thuốc uống đang gây ra nhiều băn khoăn về vấn đề hấp thu vi chất.
Hiện tại, chưa có nghiên cứu lâm sàng hay thử nghiệm trực tiếp trên dịch chiết vỏ cây nho biển để khẳng định loại nước này cản trở hấp thu sắt ở mức độ nào. Tuy nhiên, các nghiên cứu cơ bản về nhóm chất polyphenol – hoạt chất thực vật phổ biến trong các loại vỏ cây và quả – cho thấy hợp chất này có thể liên kết tạo phức với ion sắt và ức chế quá trình vận chuyển sắt qua niêm mạc ruột non [2, 6].
Cơ chế polyphenol khóa chặt quá trình hấp thu vi chất
Sắt từ thực phẩm có hai dạng chính gồm sắt heme (từ thịt động vật) và sắt không heme (từ thực vật, viên uống bổ sung). Sắt không heme rất nhạy cảm với các yếu tố can thiệp tại đường tiêu hóa [5, 6]. Khi đi vào ruột, các phân tử polyphenol tự do có khả năng hoạt động như một chất tạo phức (chelator) tự nhiên, gắn chặt vào các phân tử sắt [3, 4].
Nghiên cứu trên tế bào biểu mô ruột Caco-2 ở người chỉ ra rằng các hợp chất thực vật như epigallocatechin-3-gallate (EGCG) hay chiết xuất hạt nho ở nồng độ cao làm giảm vận chuyển sắt qua biểu mô tế bào [2, 6]. Dù bề mặt đỉnh tế bào có thể bắt giữ sắt nhiều hơn do một phần ion sắt (Fe3+) bị khử thành ion sắt (Fe2+), lượng sắt này lại bị kẹt lại bên trong và không thể thoát qua màng đáy để vào máu do chất vận chuyển ferroportin-1 bị ức chế hoặc tạo thành phức hợp polyphenol-sắt không thể vận chuyển [1].
Bên cạnh đó, các polyphenol phổ biến như quercetin cũng thể hiện khả năng gắn sắt qua các nhóm 3-hydroxyl và 4-carbonyl [2]. Khi tiếp xúc trong thời gian dài, quercetin còn làm giảm biểu hiện của protein vận chuyển ferroportin (FPN) trên tế bào ruột non, dẫn tới giảm lượng sắt giải phóng vào vòng tuần hoàn chung [2].
Dữ liệu từ các mô hình thí nghiệm động vật và tế bào
Các bằng chứng khoa học hiện nay về khả năng ức chế hấp thu sắt của polyphenol chủ yếu được thu thập trên mô hình tế bào ruột biệt hóa hoặc quai ruột cô lập ở động vật [1, 5].
Một nghiên cứu thực hiện năm 1985 dùng phương pháp thắt quai ruột ở chuột cống trắng để đánh giá ảnh hưởng của polyphenol từ bã cà phê [3]. Trong thí nghiệm, mỗi nhóm gồm 6 con chuột được phân ngẫu nhiên, tiêm dung dịch chứa đồng vị phóng xạ sắt 59Fe ở nồng độ 0,4 uCi/liều kết hợp với dung dịch polyphenol tiêu chuẩn hoặc dịch chiết bã cà phê trong 3 giờ [3]. Kết quả cho thấy các chất catechin, axit tannic và dịch chiết bã cà phê đều làm giảm đáng kể khả năng hấp thu sắt ở tá tràng so với nhóm đối chứng chỉ tiêm sắt [3]. Mức polyphenol này tương đương khẩu phần ăn chứa 10% bã cà phê ở động vật [3].
Một nghiên cứu khác vào năm 1992 kiểm tra tác động của axit chlorogenic – một polyphenol phổ biến – trên quai ruột chuột dài 6 cm [4]. Chuột được tiêm đồng vị phóng xạ 59Fe cùng các liều axit chlorogenic 0,58 mM và 1,7 mM trong các khoảng thời gian 20, 40 và 120 phút [4]. Sau thời gian trên, lượng phóng xạ được đo tại máu, lách, gan, xương đùi và ruột; kết quả cho thấy cả hai mức liều của axit chlorogenic đều gây ức chế mạnh sự hấp thu sắt không heme [4].
Năm 2014, một nghiên cứu trên chuột cống trắng và tế bào Caco-2 đã phân tích tác động cấp tính và dài hạn của quercetin [2]. Khi cho chuột uống một liều quercetin duy nhất qua đường dạ dày và đo biểu hiện chất vận chuyển sau 18 giờ, các nhà khoa học ghi nhận biểu hiện của protein ferroportin ở tá tràng giảm sút [2]. Hiện tượng tương tự cũng được xác nhận trên tế bào Caco-2 sau 18 giờ tiếp xúc [2].
Đến năm 2023, một nghiên cứu đánh giá đồ uống từ đài hoa bụp giấm (Hibiscus sabdariffa) nhằm bổ sung 6 mg sắt/ngày qua 250 mL nước uống ở khu vực châu Phi cận Sahara [5]. Các nhà khoa học phát hiện hàm lượng sắt trong đài hoa khô là 9,73 ± 0,31 mg/100 g nhưng chỉ chiết xuất được khoảng 30%, tương đương 0,93 ± 0,19 mg sắt trong 250 mL [5]. Khi bổ sung thêm muối sắt sunfat (ferrous sulfate), ở độ pH 6,5 tương đương môi trường hấp thu tại ruột non, khoảng 25% lượng sắt bổ sung đã bị liên kết tạo phức không hấp thu với polyphenol trong nước uống [5].
Giới hạn của bằng chứng và vai trò của các yếu tố đối kháng
Cần lưu ý rằng các kết quả kể trên được thực hiện với các chiết xuất hoặc hoạt chất tinh khiết như hạt nho, bụp giấm, cà phê, quercetin, chưa có phép đo thực nghiệm trên nước sắc vỏ nho biển [1, 2, 4]. Ngoài ra, môi trường quai ruột cô lập hay nuôi cấy tế bào đơn lớp không phản ánh trọn vẹn sự phức tạp của hệ tiêu hóa con người [1, 6].
Trong bữa ăn hỗn hợp thực tế, sự ức chế của polyphenol có thể bị thay đổi bởi nhiều thành phần khác [7, 8]. Nghiên cứu năm 2011 trên tế bào Caco-2 cho thấy việc bổ sung axit ascorbic (vitamin C) giúp đảo ngược tác động ức chế của các polyphenol như EGCG, chiết xuất hạt nho đối với quá trình vận chuyển sắt qua màng biểu mô [6]. Axit ascorbic điều hòa quá trình vận chuyển sắt mà không làm thay đổi lượng hấp thu ban đầu ở bờ đỉnh hay biểu hiện của ferroportin-1 [6].
Tuy nhiên, mối tương quan giữa chất ức chế và chất thúc đẩy hấp thu phụ thuộc nhiều vào liều lượng và cấu trúc thực phẩm [7]. Một nghiên cứu năm 2015 trên các công thức bột ăn dặm từ khoai lang ruột cam (OFSP ComFa) cho thấy dù sản phẩm này chứa hàm lượng axit ascorbic cao gấp 32 lần, beta-carotene gấp 393 lần và fructose gấp 7 lần so với công thức đối chứng Weanimix, nhưng khả năng sinh khả dụng của sắt (đo qua lượng ferritin tạo thành) vẫn không cao hơn [7]. Nguyên nhân là do hàm lượng polyphenol trong bột khoai lang ruột cam cao hơn khoảng 1,8 lần, lấn át tác dụng thúc đẩy của các vi chất khác [7].
Hơn nữa, một bài tổng quan bán hệ thống năm 2015 chỉ ra rằng trong các nghiên cứu bữa ăn đa dạng ở người, ba biến số gồm mô động vật, axit phytic và vitamin C cũng chỉ giải thích được khoảng 16% sự biến thiên hấp thu sắt [8]. Dữ liệu riêng lẻ về hàm lượng sắt và polyphenol thường đến từ các nghiên cứu tách rời, gây khó khăn cho việc đưa ra kết luận đồng nhất về mối tương quan giữa chúng trong cùng một mẫu dược liệu [8].
Hiểu lầm thường gặp khi dùng nước sắc thảo mộc
Sai lầm phổ biến là cho rằng nước thảo mộc lành tính nên uống thay nước lọc cả ngày hoặc dùng trực tiếp để uống thuốc, uống thực phẩm chức năng. Việc cô đặc các loại vỏ cây giàu polyphenol tạo ra một lượng lớn hoạt chất có khả năng liên kết với khoáng chất tự do ngay trong lòng ống tiêu hóa [1, 4].
Một hiểu lầm khác là nghĩ các chất bổ sung như sắt hay thảo mộc uống vào cùng lúc sẽ giúp cơ thể nhận được cùng lúc cả hai dưỡng chất. Thực tế, khi gặp polyphenol ở độ pH ruột, một tỷ lệ ion sắt có thể tạo phức không tan, làm giảm sinh khả dụng của sắt được bổ sung [5].
Những ai nên thận trọng với nước sắc giàu polyphenol?
Dù chưa có nghiên cứu cụ thể về vỏ nho biển, việc thận trọng khi dung nạp các loại nước sắc thảo mộc giàu polyphenol là cần thiết đối với một số nhóm người:
- Người được chẩn đoán thiếu máu do thiếu sắt, phụ nữ mang thai hoặc phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có chu kỳ kinh nguyệt nhiều cần tránh uống nước sắc thảo mộc đậm đặc gần bữa ăn [3, 4].
- Bệnh nhân đang sử dụng thuốc điều trị hoặc các viên uống bổ sung vi chất sắt, kẽm, canxi theo chỉ định của bác sĩ.
- Trẻ nhỏ đang trong giai đoạn ăn dặm và phát triển thể chất [7].
Ngược lại, theo giả thuyết từ các nhà nghiên cứu, chế độ ăn giàu polyphenol có thể là hướng nghiên cứu mang lại lợi ích tiềm năng cho những người có nguy cơ ứ đọng sắt trong cơ thể bằng cách làm chậm tỷ lệ hấp thu sắt ở ruột non [2].
Áp dụng thực tế an toàn tại gia đình
Để hạn chế tương tác bất lợi giữa các hợp chất thực vật và vi chất sắt, người tiêu dùng nên tuân thủ các nguyên tắc sinh hoạt sau:
- Không dùng nước sắc vỏ cây hay thảo mộc đậm đặc để uống viên sắt hoặc các loại thuốc điều trị bệnh.
- Uống nước thảo mộc cách xa bữa ăn chính và xa thời điểm dùng thuốc hoặc vi chất bổ sung tối thiểu 2 giờ nhằm tránh hiện tượng cạnh tranh và tạo phức tại ruột non [4].
- Tăng cường các thực phẩm giàu vitamin C tự nhiên như cam, ổi, ớt chuông trong bữa ăn vì axit ascorbic có khả năng hỗ trợ bù trừ tác động ức chế hấp thu sắt của polyphenol [2, 7].
- Chỉ sử dụng nước sắc vỏ thảo mộc với liều lượng vừa phải, không nấu quá đặc và không uống kéo dài thay thế nước lọc thường quy khi chưa tham vấn ý kiến của bác sĩ y học cổ truyền hoặc chuyên gia dinh dưỡng.
Nước sắc từ các loại vỏ thực vật có thể chứa nhiều hợp chất polyphenol hữu ích, nhưng cũng đi kèm đặc tính liên kết kim loại gây ức chế hấp thu vi chất sắt [1, 6]. Người dân cần sử dụng hợp lý, đúng thời điểm và chủ động trao đổi với nhân viên y tế nếu đang điều trị thiếu máu hoặc có bệnh lý nền kèm theo.


