Mất ngủ và khó đi vào giấc ngủ là tình trạng phổ biến, gây ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu suất công việc và sức khỏe tổng thể. Thay vì tìm đến các loại thuốc an thần kê đơn do lo ngại tác dụng phụ, nhiều người thường lựa chọn các biện pháp bổ sung từ thảo mộc thiên nhiên, nổi bật nhất là chiết xuất từ rễ cây valerian (thường gọi là cây nữ lang).

Theo các tổng hợp y khoa và phân tích gộp hiện nay, valerian có thể mang lại hiệu quả cải thiện giấc ngủ ở mức độ chủ quan, giúp người dùng cảm thấy dễ chịu hoặc dễ ngủ hơn. Tuy nhiên, các đo lường khách quan và định lượng cụ thể qua các chỉ số giấc ngủ lại chưa cho thấy hiệu quả rõ ràng hoặc nhất quán.

Cơ chế tác động của valerian lên hệ thần kinh

Rễ cây valerian chứa nhiều thành phần hoạt tính sinh học phức tạp như sesquiterpene dễ bay hơi, valepotriate và các axit amin [1]. Hiệu quả an thần của thảo dược này đến từ tác động riêng lẻ hoặc sự tương tác qua lại giữa các hoạt chất lên hệ thống axit gamma aminobutyric (GABA) và adenosine [1].

Các chất chiết xuất từ rễ valerian đã được chứng minh là có thể điều chỉnh khả năng kích thích vỏ não ở người, từ đó mang lại tác dụng an thần và giảm bớt căng thẳng [1]. Về mặt hóa học, các loài valerian khác nhau cũng có đặc tính riêng; chẳng hạn các dẫn xuất axit valerenic (axit valerenic, acetoxyvalerenic, hydroxyvalerenic) là đặc trưng của loài Valeriana officinalis, trong khi nhóm valepotriate (valtrate, isovaltrate) có mặt ở cả ba loài V. officinalis, V. edulis và V. wallichii [2].

Nghiên cứu phân tích gộp nói gì về hiệu quả giấc ngủ?

Năm 2006, một tổng quan hệ thống và phân tích gộp thu thập 16 nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng giả dược với 1.093 bệnh nhân cho thấy việc dùng valerian có thể cải thiện chất lượng giấc ngủ [3]. Khi gộp 6 nghiên cứu đánh giá tiêu chí nhị phân (chất lượng giấc ngủ có cải thiện hay không), kết quả cho thấy nhóm dùng valerian có khả năng cải thiện giấc ngủ cao hơn giả dược với nguy cơ tương đối (RR) là 1,8 (khoảng tin cậy 95%: 1,2 - 2,9) [3]. Tuy nhiên, các tác giả ghi nhận có bằng chứng về thiên vị xuất bản và hầu hết các nghiên cứu được đưa vào phân tích gặp phải các vấn đề về phương pháp luận [3].

Năm 2010, một phân tích gộp khác dựa trên 18 thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (RCT) để đánh giá chi tiết các chỉ số giấc ngủ [4]. Kết quả cho thấy tỷ số nguy cơ cải thiện chất lượng giấc ngủ chủ quan (dạng có/không) đạt 1,37 (khoảng tin cậy 95%: 1,05 - 1,78) nghiêng về nhóm dùng valerian [4]. Ngược lại, khi đo lường bằng thước đo trực quan (visual analog scale - SQS), sự khác biệt chuẩn hóa giữa nhóm dùng thảo dược và giả dược chỉ là -0,02 (khoảng tin cậy 95%: -0,35 đến 0,31), không có ý nghĩa thống kê [4]. Thời gian tiềm thời để đi vào giấc ngủ (latency time) đo bằng số phút cũng không có sự chênh lệch đáng kể giữa hai nhóm, với mức khác biệt trung bình là 0,70 phút (khoảng tin cậy 95%: -3,44 đến 4,83) [4].

Năm 2015, một phân tích gộp gồm 12 thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng đã kết luận không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm dùng valerian và giả dược đối với thời gian tiềm thời vào giấc ngủ (SOL), tổng thời lượng giấc ngủ, hiệu quả giấc ngủ (SE), thời gian tỉnh giấc sau khi bắt đầu ngủ (WASO) hay chất lượng giấc ngủ tổng thể [1]. Dù một tổng quan hệ thống sau đó gồm 17 nghiên cứu báo cáo một số thử nghiệm có ghi nhận cải thiện chủ quan, kết quả chung vẫn còn lẫn lộn và thiếu các đo lường khách quan [1].

Bằng chứng từ các thử nghiệm lâm sàng quy mô lớn

Năm 2007, một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng mù đôi, đa trung tâm quy mô lớn được tiến hành trên 405 người trưởng thành từ 18 đến 75 tuổi bị mất ngủ kéo dài trên 1 tháng (điểm PSQI > 5) [6, 8]. Các tình nguyện viên được dùng viên nén tương đương khoảng 3,6 gram valerian hoặc giả dược liên tục trong 2 tuần [6, 8].

Ở tiêu chí đánh giá chính là sự cải thiện tự báo cáo có ý nghĩa tối thiểu về chất lượng giấc ngủ (tăng ≥ 0,5 đơn vị trên thang điểm 7), nhóm dùng valerian đạt tỷ lệ 29% so với 21% ở nhóm giả dược, sự khác biệt 7,5% này không đạt ý nghĩa thống kê (p = 0,08) [5]. Ở câu hỏi tự đánh giá tổng thể cuối đợt dùng, tỷ lệ người cảm nhận giấc ngủ tốt hơn hoặc tốt hơn nhiều ở nhóm dùng valerian cao hơn 5,5% so với nhóm giả dược (p = 0,04) [5]. Xu hướng giảm thức giấc giữa đêm và kéo dài thời gian ngủ cũng nghiêng nhẹ về nhóm thảo dược nhưng không vượt trội rõ rệt [5].

Tác động trên các tình trạng sức khỏe khác và loài liên quan

Ngoài mất ngủ, chiết xuất valerian dạng nước dùng 750 mg mỗi ngày trong 8 tuần đã cho thấy hiệu quả giảm triệu chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế (OCD) [2]. Dùng rễ hoặc thân rễ valerian 530 mg mỗi ngày trong 1 tháng giúp cải thiện nhận thức ở bệnh nhân chạy thận nhân tạo, trong khi liều 1.060 mg mỗi ngày trong 8 tuần giúp ngăn ngừa suy giảm nhận thức sau phẫu thuật bắc cầu mạch vành [2]. Liều 675 mg rễ/thân rễ hoặc 1.060 mg chiết xuất mỗi ngày trong 8 tuần làm giảm mức độ và tần suất bốc hỏa ở phụ nữ quanh mãn kinh và mãn kinh [2]. Ngoài ra, liều 765 mg mỗi ngày trong 3 ngày qua 2 chu kỳ kinh nguyệt giúp giảm mức độ đau và ngất xỉu ở phụ nữ trẻ bị đau bụng kinh, và liều 1.260 mg chiết xuất dùng 7 ngày qua 3 chu kỳ giúp giảm hội chứng tiền kinh nguyệt [2].

Đối với các loài valerian khác, thử nghiệm trên loài V. edulis với liều 20 mg/kg trong 2 tuần giúp giảm thời gian tiềm thời vào giấc ngủ và cải thiện chất lượng ngủ ở trẻ em khuyết tật trí tuệ gặp vấn đề giấc ngủ nguyên phát [2]. Liều đơn 450 mg chiết xuất cồn-nước từ V. edulis giúp tăng giai đoạn ngủ chuyển động mắt nhanh (REM) và giảm số lần thức giấc ở người mất ngủ [2]. Hỗn hợp valepotriate từ loài V. wallichii liều 300 mg mỗi ngày trong 15 ngày giúp giảm thời gian tỉnh giấc sau khi bắt đầu ngủ (WASO) và nâng cao chất lượng giấc ngủ [2].

Lợi ích thực tế và giới hạn của bằng chứng

Một tổng quan dạng "umbrella review" tổng hợp các đánh giá hệ thống cho thấy, dù valerian được sử dụng phổ biến và kê đơn bởi các bác sĩ đa khoa hay chuyên gia tâm thần, dữ liệu thực nghiệm hỗ trợ điều trị mất ngủ vẫn còn yếu [6]. Valerian dường như chỉ phát huy tác dụng ở khía cạnh cải thiện giấc ngủ theo nhận định chủ quan của người bệnh, nhưng chưa được chứng minh hiệu quả qua các thang đo khách quan hoặc định lượng [5, 7].

Một tổng quan khác trên 29 nghiên cứu có đối chứng và 8 thử nghiệm mở cũng đi đến kết luận phần lớn các phát hiện là âm tính, tức không có tác động tổng thể nhất quán của valerian dù dùng đơn lẻ hay kết hợp [7]. Bằng chứng đối với việc điều trị rối loạn lo âu cũng được đánh giá là chưa đủ để khuyến nghị sử dụng [8]. Các hạn chế chính trong dữ liệu nghiên cứu hiện có bao gồm quy mô mẫu nhỏ ở nhiều thử nghiệm, thiếu đo lường bằng các thiết bị khách quan, sự khác biệt lớn về nguồn gốc loài thảo dược, liều dùng và quy trình chiết xuất [1, 3, 7].

Ai nên thận trọng và lưu ý về an toàn

Tổng thể các nghiên cứu đều ghi nhận valerian có hồ sơ an toàn tốt, dung nạp tốt và các tác dụng không mong muốn hiếm gặp, nhẹ [1, 4, 7, 8]. Các phản ứng phụ hiếm khi được báo cáo bao gồm rối loạn tiêu hóa, dị ứng tiếp xúc, đau đầu, ngủ chập chờn bồn chồn và giãn đồng tử [1]. Đã có thử nghiệm ghi nhận tỷ lệ tiêu chảy cao hơn ở nhóm dùng valerian, song điều này không được quan sát thấy ở các nghiên cứu khác [1].

Người chuẩn bị phẫu thuật, phụ nữ mang thai, phụ nữ đang cho con bú và những người có bệnh lý nền mạn tính cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng. Đặc biệt, người đang dùng các thuốc tác động lên hệ thần kinh trung ương không nên tự ý kết hợp với thảo dược để tránh tương tác bất lợi.

Cách áp dụng thực tế

Trong các nghiên cứu lâm sàng, khi dùng với mục đích an thần, valerian thường được dùng trước giờ đi ngủ khoảng 30 đến 60 phút [1]. Liều dùng trung bình hàng ngày trong các thử nghiệm là 912 mg, dao động trong khoảng rộng từ 300 mg đến 3.645 mg mỗi ngày tùy dạng bào chế và loài thảo dược [1]. Việc sử dụng một liều đơn lẻ thường không mang lại tác dụng rõ rệt [7].

Người dùng không nên xem valerian là giải pháp điều trị dứt điểm mất ngủ mạn tính. Thảo dược này chỉ nên được xem như một phương án hỗ trợ ngắn hạn, kết hợp cùng các thói quen vệ sinh giấc ngủ lành mạnh như ngủ và thức đúng giờ, hạn chế ánh sáng xanh và duy trì không gian phòng ngủ yên tĩnh.

Valerian có thể mang lại lợi ích hỗ trợ tâm lý và cải thiện chất lượng giấc ngủ theo cảm nhận của một số cá nhân, nhưng các dữ liệu khoa học định lượng khách quan hiện nay vẫn chưa đủ vững chắc để khẳng định hiệu quả điều trị mất ngủ. Hãy duy trì lối sống khoa học và tham vấn ý kiến chuyên gia y tế khi tình trạng mất ngủ kéo dài.