Dân gian lưu truyền nhiều bài thuốc dùng vỏ cây sung để chữa tiêu chảy, kiết lỵ cấp tính. Nhiều người băn khoăn liệu kinh nghiệm truyền miệng này có cơ sở khoa học thực sự hay không, hay chỉ là cảm tính.

Các nghiên cứu thực nghiệm trên động vật ghi nhận chiết xuất từ một số bộ phận và loài thuộc chi Sung (Ficus) có tác dụng giảm tiêu chảy, giảm co thắt và ức chế tích tụ dịch ruột [3, 7]. Tuy nhiên, dữ liệu lâm sàng trên người về hiệu quả và liều dùng an toàn của vỏ cây sung vẫn chưa được xác lập đầy đủ.

Cơ chế tác động đường ruột của chiết xuất cây họ sung

Trong y học cổ truyền, vỏ cây sung thường được dùng để cầm tiêu chảy nhờ tính vị chát. Hoạt chất tạo nên vị chát này thường chứa hàm lượng hợp chất phenolic và tannin tự nhiên.

Tannin và các hợp chất phenolic có đặc tính làm săn se niêm mạc ống tiêu hóa. Khi tiếp xúc với bề mặt ruột, các chất này làm kết tủa protein niêm mạc, tạo thành lớp màng bảo vệ tạm thời.

Lớp bảo vệ niêm mạc giúp giảm kích thích cơ học và hóa học lên thành ruột. Tình trạng này làm giảm bài tiết chất lỏng và điện giải vào lòng ruột.

Chiết xuất thực vật thuộc chi Sung còn thể hiện đặc tính chống co thắt cơ trơn tiêu hóa [3, 7]. Cơ chế này làm chậm nhu động ruột, kéo dài thời gian di chuyển của bã thức ăn để cơ thể tái hấp thu nước.

Bên cạnh đó, các polyphenol như axit gallic và axit ellagic giúp chống oxy hóa, hỗ trợ bảo vệ mô ruột và dạ dày trước các tổn thương viêm nhiễm [1].

Nghiên cứu thực nghiệm về tác dụng cầm tiêu chảy

Năm 2012, một nghiên cứu thực nghiệm đã đánh giá tác dụng trị tiêu chảy của chiết xuất ethanolic từ các loài cây Ficus ở vùng Khandesh, Ấn Độ [2]. Nghiên cứu tiến hành trên chuột cống trắng Wistar bạch tạng nặng 180 đến 200 gam của cả hai giới, chia thành 8 nhóm với 10 con mỗi nhóm [2].

Các nhà khoa học đã thử nghiệm chiết xuất vỏ cây Ficus bengalensis, lá Ficus racemosa (sung chùm) và lá Ficus carica trên ba mô hình gây bệnh ở chuột: tiêu chảy do dầu thầu dầu, thử nghiệm nhu động đường tiêu hóa với bữa ăn than hoạt tính, và tích tụ dịch ruột do prostaglandin E2 (PGE2) [2]. Kết quả cho thấy chiết xuất vỏ cây F. bengalensis cùng lá của F. racemosa và F. carica ở liều 400 mg/kg và 600 mg/kg làm giảm tiêu chảy phụ thuộc vào liều lượng (P < 0,01) [2].

Chiết xuất từ các loài Ficus này làm giảm đáng kể lượng phân thải ra và tần suất bài tiết phân so với nhóm chuột chỉ dùng dầu thầu dầu [2]. Các chiết xuất thực vật cũng làm chậm đáng kể sự vận chuyển của bữa ăn than hoạt tính trong lòng ruột và ức chế hiện tượng tích tụ dịch ruột do PGE2 gây ra [2]. Cơ chế tác dụng được kết luận là chống co thắt và chống tiết dịch [2].

Một nghiên cứu khác năm 2021 tiến hành trên chiết xuất quả Ficus palmata bằng dung môi chloroform và nước trên chuột và mô ruột thỏ cô lập [3]. Nghiên cứu chỉ ra chiết xuất quả ức chế tiêu chảy và bài tiết dịch ruột do dầu thầu dầu theo liều lượng [3].

Trên mô hồi tràng thỏ cô lập, chiết xuất Ficus palmata làm giảm co bóp tự phát và co bóp do K+ (ở nồng độ 80 mM), đồng thời rút ngắn chiều dài di chuyển của than hoạt tính [3]. Chiết xuất này còn giảm tổn thương dạ dày do cồn thông qua ức chế TNF-alpha và IL-18 [3].

Tuy nhiên, các dữ liệu này chủ yếu ghi nhận từ mô hình chuột cống hoặc thỏ [3, 7]. Đối với vỏ cây sung bản địa tại Việt Nam (Ficus glomerata / Ficus racemosa), các nghiên cứu thường tập trung vào lá hoặc quả, hoặc vỏ của các loài liên quan như F. bengalensis [3, 5, 8].

Tác dụng chống oxy hóa và bảo vệ cơ quan nội tạng

Bên cạnh tác động lên nhu động ruột, vỏ của các loài sung còn thể hiện hoạt tính sinh học đa dạng trên mô hình động vật [2, 4].

Năm 2008, một thử nghiệm đánh giá chiết xuất methanol vỏ cây sung Ficus glomerata trên chuột cống bị tổn hại gan do carbon tetrachloride (CCl4) [4]. Chuột dùng chiết xuất vỏ F. glomerata đường uống ở liều 250 mg/kg và 500 mg/kg thể trọng đã phục hồi đáng kể các chỉ số sinh hóa huyết thanh, gan và thận so với nhóm đối chứng chỉ dùng CCl4 [4]. Kết quả này tương đương với chất chuẩn silymarin và được xác nhận qua cấu trúc mô học [4].

Năm 2013, nghiên cứu trên chuột nhắt trắng đánh giá tác dụng điều hòa miễn dịch của chiết xuất methanol từ vỏ và quả Ficus glomerata Roxb. ở liều 250 mg/kg và 500 mg/kg đường uống trong 13 ngày [5]. Chiết xuất vỏ giúp chống lại tình trạng suy giảm bạch cầu, hồng cầu và tiểu cầu do thuốc cyclophosphamide gây ra (P < 0,01) [5]. Nồng độ chiết xuất từ 6,25 đến 100 microgam cũng thúc đẩy hoạt tính thực bào trên bạch cầu trung tính của người trong ống nghiệm [5].

Những dữ liệu này cho thấy các hoạt chất trong vỏ cây sung có tiềm năng bảo vệ tế bào trước độc chất và điều hòa phản ứng viêm nhiễm [2, 4]. Dù vậy, những tác động này cần được thử nghiệm đối chứng lâm sàng trước khi ứng dụng chính thức.

Tác động đến chuyển hóa đường huyết cần lưu ý

Nhiều loài thuộc chi Sung có chứa các hợp chất tác động mạnh đến quá trình điều hòa đường huyết [1, 5, 6].

Một báo cáo tổng hợp năm 2010 cho thấy hợp chất beta-sitosterol-D-glycoside được phân lập từ vỏ rễ của F. glomerata và F. religiosa có hoạt tính hạ đường huyết đường uống [6]. Khi cho chuột cống bình thường, chuột nạp glucose và chuột tiểu đường do streptozotocin (STZ) uống chiết xuất vỏ F. religiosa ở các liều 25, 50 và 100 mg/kg, nồng độ glucose trong máu giảm đáng kể ở cả ba mức liều [6]. Tác dụng hạ đường huyết rõ rệt hơn ở liều 50 và 100 mg/kg [6]. Chiết xuất còn làm tăng insulin huyết thanh, tăng glycogen gan, đồng thời giảm cholesterol toàn phần và triglyceride [6].

Năm 2008, nghiên cứu chiết xuất nước vỏ cây Ficus bengalensis ở liều 500 mg/kg/ngày trên chuột cống tiểu đường do STZ trong 12 tuần ghi nhận khả năng giảm đường huyết rõ rệt sau 5 giờ, phục hồi men gan và giảm peroxy hóa lipid [7].

Năm 1996, nghiên cứu trên thỏ ăn glucose cũng chứng minh chiết xuất chloroform vỏ rễ Ficus glomerata có hoạt tính hạ đường huyết rõ rệt [8].

Điều này đồng nghĩa với việc các thành phần trong vỏ cây sung có thể gây hạ đường huyết bất ngờ nếu sử dụng tùy tiện, đặc biệt trên người đang điều trị tiểu đường [1, 5, 6].

Những hiểu lầm phổ biến khi dùng vỏ sung trị bệnh

Nhiều người lầm tưởng thảo dược tự nhiên hoàn toàn vô hại và có thể dùng thay thế hoàn toàn thuốc điều trị tiêu chảy của tây y.

Hiểu lầm đầu tiên là cho rằng vỏ cây sung có thể tiêu diệt tất cả các nguyên nhân gây tiêu chảy. Tiêu chảy có thể do nhiễm khuẩn độc lực cao, ký sinh trùng, ngộ độc thức ăn hoặc rối loạn hấp thu. Hoạt tính làm săn se và chống co thắt chỉ hỗ trợ giảm bài tiết dịch và giảm số lần đi ngoài, không thể thay thế phác đồ kháng sinh khi ruột nhiễm khuẩn nặng [2].

Hiểu lầm thứ hai là tự ý bóc vỏ cây sung tươi sắc uống với nồng độ đậm đặc để nhanh khỏi bệnh. Vỏ cây tươi ngoài tự nhiên có thể nhiễm nấm mốc, bụi bẩn, vi khuẩn hoặc thuốc bảo vệ thực vật. Việc thu hái tự phát không qua kiểm soát chất lượng tiềm ẩn nguy cơ ngộ độc cấp tính đường tiêu hóa.

Hiểu lầm thứ ba là nhầm lẫn kết quả nghiên cứu trên chuột với người. Dù liều 400 - 600 mg/kg chiết xuất thực vật có hiệu quả trên chuột cống, liều lượng này không thể quy đổi trực tiếp theo tỷ lệ trọng lượng để áp dụng trên cơ thể người do khác biệt về chuyển hóa sinh học [2].

Hiểu lầm thứ tư là uống nước vỏ cây sung thay cho việc bù nước và điện giải. Tiêu chảy gây mất nước nhanh chóng; nếu chỉ tập trung cầm tiêu chảy mà không bù dịch, bệnh nhân có thể rơi vào trạng thái sốc giảm thể tích nguy hiểm.

Những ai cần thận trọng hoặc không nên sử dụng?

Người mắc bệnh đái tháo đường đang dùng thuốc hạ đường huyết cần đặc biệt cẩn trọng. Các hợp chất trong vỏ cây họ sung có hoạt tính hạ đường huyết thực nghiệm, dễ dẫn đến hiện tượng tụt đường huyết quá mức khi kết hợp cùng thuốc điều trị [1, 5, 6].

Người có tiền sử dị ứng hoặc nhạy cảm với các loại cây họ Dâu tằm (Moraceae) không nên tiếp xúc hoặc uống nước sắc từ vỏ cây sung.

Trẻ nhỏ và người cao tuổi có hệ tiêu hóa nhạy cảm, chức năng gan thận suy giảm không nên tự ý dùng các bài thuốc sắc truyền miệng chưa được chuẩn hóa liều lượng.

Phụ nữ mang thai và phụ nữ đang cho con bú tuyệt đối không tự ý áp dụng. Hiện tại chưa có nghiên cứu độc tính sinh sản hoặc thử nghiệm lâm sàng nào về độ an toàn của vỏ cây sung trên hai nhóm đối tượng này; dữ liệu hiện có chỉ dừng lại trên chuột và thỏ [3, 4, 7].

Những người bị tiêu chảy kèm theo dấu hiệu cảnh báo như sốt cao, đi ngoài phân có nhầy máu, đau bụng dữ dội hoặc nôn liên tục cần đến ngay cơ sở y tế để được khám và điều trị bài bản.

Áp dụng đúng cách và an toàn trong đời sống

Nếu lựa chọn các bài thuốc dân gian từ vỏ cây sung, người dân chỉ nên dùng như biện pháp hỗ trợ nhẹ nhàng và cần có sự hướng dẫn của thầy thuốc y học cổ truyền.

Nên chọn vỏ từ các cây sung bánh tẻ, mọc ở khu vực môi trường sạch, không bị phun thuốc trừ sâu hay ô nhiễm nguồn nước. Vỏ cây sau khi cạo sạch lớp bần xù xì bên ngoài cần được rửa thật sạch, thái mỏng, phơi khô hoặc sao vàng hạ thổ trước khi sắc lấy nước.

Khi dùng, chỉ nên dùng với lượng vừa phải dạng sắc uống loãng, không nên nấu quá đặc gây kích ứng dạ dày do lượng tannin đậm đặc. Thời điểm sử dụng nên cách xa bữa ăn chính và không uống cùng lúc với các loại thuốc tân dược khác để tránh tương tác cản trở hấp thu thuốc.

Ưu tiên số một trong xử trí tiêu chảy vẫn là bù nước và điện giải bằng dung dịch Oresol pha đúng tỷ lệ, kết hợp chế độ ăn lỏng, dễ tiêu như cháo loãng nấu với muối hoặc súp thịt nạc.

Khi tình trạng đi ngoài kéo dài quá 48 giờ mà không thuyên giảm, hoặc xuất hiện các dấu hiệu mất nước như môi khô, mắt trũng, tiểu ít, người bệnh phải ngừng ngay thảo dược và đến bệnh viện điều trị kịp thời.

Lời kết cho việc sử dụng vỏ sung trị bệnh

Kinh nghiệm dùng vỏ sung chữa tiêu chảy phần nào được củng cố qua các đặc tính săn se, chống co thắt và chống tiết dịch trên mô hình động vật của chi Ficus [3, 7]. Tuy vậy, dược liệu tự nhiên luôn đi kèm giới hạn an toàn và các hoạt tính chuyển hóa đa dạng như hạ đường huyết hay tác động miễn dịch [1, 4, 6].

Người bệnh không nên tự ý dùng vỏ cây tươi bừa bãi hay lạm dụng thảo dược thay thế chỉ định y khoa. Khi gặp vấn đề tiêu hóa dai dẳng, tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa luôn là lựa chọn an toàn và hiệu quả nhất.