Thói quen truyền miệng và lời đồn chữa sốt rét
Cây xà cừ là loài cây thân gỗ quen thuộc che bóng mát trên nhiều tuyến đường và khu dân cư khắp Việt Nam. Từ lâu, trong kinh nghiệm dân gian ở một số nước châu Phi cũng như một vài vùng tại nước ta, vỏ thân cây xà cừ thường được cạo vỏ, phơi khô sắc nước uống khi bị sốt, cảm cúm hoặc sốt rét. Vị đắng gắt của nước sắc khiến nhiều người lầm tưởng đây là phương thuốc "thần hiệu" cắt đứt cơn sốt.
Tuy nhiên, liệu vỏ xà cừ có thực sự trị được bệnh sốt rét hay chỉ là kinh nghiệm cảm quan chưa qua kiểm chứng? Câu trả lời ngắn gọn: Các hoạt chất chiết xuất từ vỏ các loài xà cừ bước đầu ghi nhận khả năng ức chế ký sinh trùng sốt rét trong phòng thí nghiệm và trên động vật, nhưng hoàn toàn chưa có bằng chứng lâm sàng trên người để thay thế phác đồ điều trị chuẩn.
Cơ chế tác động: Nhóm hợp chất limonoid có gì đặc biệt?
Cây xà cừ thuộc chi Khaya, họ Xoan (Meliaceae). Nhóm thực vật này nổi tiếng với các hợp chất thứ cấp thuộc nhóm limonoid – một dạng triterpenoid có vị đắng đặc trưng [4, 7]. Về mặt sinh thái, limonoid đóng vai trò như chất tự vệ của thực vật chống lại sâu bọ và các vi sinh vật gây hại.
Trong nghiên cứu y học, limonoid thu hút sự chú ý nhờ cấu trúc hóa học phức tạp, có khả năng tương tác và ức chế sự sinh trưởng của ký sinh trùng đơn bào, bao gồm chi Plasmodium gây bệnh sốt rét [4, 7]. Một số dẫn xuất limonoid can thiệp vào chu kỳ phát triển của ký sinh trùng ở giai đoạn hồng cầu, làm chậm khả năng nhân đôi và tiêu diệt chúng trong môi trường nuôi cấy [4, 7].
Bằng chứng khoa học: Nghiên cứu trong ống nghiệm nói gì?
Để xác minh tác dụng của xà cừ, các nhà khoa học đã tiến hành chiết tách và đánh giá dược tính trên các dòng ký sinh trùng Plasmodium falciparum.
Một nghiên cứu công bố năm 2003 tại Burkina Faso đã tiến hành sàng lọc dược liệu truyền thống trên các chủng lâm sàng tươi của Plasmodium falciparum, trong đó có mẫu từ loài xà cừ Khaya senegalensis [1]. Nghiên cứu này cho thấy cây nằm trong danh sách các bài thuốc dân gian được khảo sát, mở đường cho việc phân lập chuyên sâu các hoạt chất đặc hiệu [1].
Đến năm 2008, một nghiên cứu tập trung vào anthothecol – một limonoid phân lập từ vỏ loài xà cừ Khaya anthotheca [2]. Thử nghiệm in vitro nuôi cấy trong 48 giờ và đo lường bằng phương pháp hấp thu hypoxanthine đánh dấu phóng xạ [(3)H] cho thấy anthothecol thể hiện hoạt tính kháng ký sinh trùng mạnh mẽ với nồng độ ức chế 50% (IC50) đạt giá trị 1,4 và 0,17 microM tùy phép thử [2]. Cùng trong nghiên cứu này, một limonoid khác là gedunin cũng cho hoạt tính rõ rệt với IC50 lần lượt là 3,1 và 0,14 microM, trong khi các limonoid chiết từ cam chanh như limonin hay obacunone hoàn toàn không có tác dụng [2].
Gần đây hơn, một nghiên cứu công bố năm 2023 tại Cameroon đã chiết xuất vỏ thân loài xà cừ Khaya senegalensis bằng methanol (KS-MeOH) [3]. Nhóm tác giả đã phân lập thành công một dẫn xuất limonoid mới là 21beta-hydroxybourjotinolone A (1a) cùng 15 hợp chất đã biết khác thông qua phương pháp sắc ký cột lặp lại, xác định cấu trúc bằng HRMS và phổ NMR 1D/2D [3]. Khi thử nghiệm in vitro trên các chủng Plasmodium falciparum gồm chủng kháng đa thuốc Dd2 và chủng 3D7 (nhạy chloroquine, kháng sulfadoxine) ở giai đoạn thể tư dưỡng đồng bộ, cao chiết và các phân đoạn cho thấy hoạt tính từ trung bình đến tiềm năng, nhưng hiệu lực trên các chủng ký sinh trùng sốt rét vẫn còn yếu khi so sánh trực tiếp với các thuốc đối chứng chuẩn như artemisinin và chloroquine [3].
Kết quả thử nghiệm trên động vật còn nhiều hạn chế
Không dừng lại ở tế bào, hoạt tính của xà cừ tiếp tục được đưa lên mô hình sinh vật sống để đánh giá dược lực học và độc tính.
Một nghiên cứu công bố năm 2011 đã khảo sát bài thuốc phối hợp vỏ thân xà cừ Khaya ivorensis và cây Alstonia boonei theo kinh nghiệm dân gian vùng Trung Cameroon [4]. Trên mô hình chuột BALB/c nhiễm ký sinh trùng Plasmodium berghei qua muỗi truyền Anopheles stephensi, chuột được cho uống dịch chiết nước trong 9 ngày ở liều 200 đến 400 mg/kg/thể trọng/ngày [4].
Kết quả ghi nhận ở liều 200 mg/kg/ngày, tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng trong máu (parasitemia) ở nhóm điều trị giảm xuống 6,2% ± 1,7 và 6,5% ± 0,8 so với nhóm đối chứng là 10,8% ± 1,3 và 12,0% ± 4,0 (p < 0,01) [4]. Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ ra rằng khi tăng gấp đôi liều lượng của dịch chiết, hiệu quả ức chế ký sinh trùng không tăng lên tương ứng một cách đáng kể [4]. Đồng thời, đây là bài thuốc phối hợp nên hiệu quả riêng lẻ của vỏ xà cừ vẫn còn là dấu hỏi lớn.
Quan trọng nhất, các thử nghiệm này chỉ dừng lại trên chuột và tế bào nuôi cấy [4, 6]. Chưa có bất kỳ thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng nào được tiến hành trên người để chứng minh nước sắc hoặc cao vỏ xà cừ có thể chữa khỏi bệnh sốt rét.
Những hiểu lầm nguy hiểm khi dùng xà cừ chữa sốt rét
Nhiều người thường tin vào quan niệm "thuốc đắng dã tật", hễ thấy vỏ cây đắng ngắt là cho rằng có thể tiêu diệt được mầm bệnh. Việc tự ý cạo vỏ xà cừ đun nước uống để cắt cơn sốt rét tiềm ẩn những rủi ro cực kỳ nghiêm trọng đối với sức khỏe.
Bệnh sốt rét do ký sinh trùng Plasmodium tấn công trực tiếp vào hồng cầu, phá hủy tế bào máu và có thể nhanh chóng biến chứng thành sốt rét ác tính thể não, suy thận cấp, phù phổi hoặc tử vong nếu không được điều trị kịp thời bằng thuốc đặc hiệu. Nước sắc vỏ cây không thể chuẩn hóa được hàm lượng hoạt chất limonoid, liều lượng thu được từ phương pháp thủ công quá thấp để đạt ngưỡng ức chế ký sinh trùng trong cơ thể người [4, 6].
Hơn nữa, việc sử dụng các bài thuốc truyền miệng không rõ nồng độ dễ dẫn đến việc làm chậm trễ thời gian vàng đi khám tại các cơ sở y tế. Khi bệnh đã chuyển sang giai đoạn biến chứng nặng, việc cứu chữa sẽ trở nên vô cùng khó khăn.
Ai cần tuyệt đối thận trọng?
Mặc dù một số loài cây truyền thống được dùng rộng rãi, vỏ cây xà cừ tự nhiên chứa nhiều tạp chất, tannin và các hoạt chất chưa được xác định rõ giới hạn an toàn độc học trên cơ thể người bệnh.
- Phụ nữ mang thai và phụ nữ đang cho con bú: Tuyệt đối không tự ý uống nước sắc vỏ xà cừ. Các hợp chất sinh học có thể gây kích ứng tử cung hoặc độc tính tiềm ẩn lên thai nhi mà chưa có dữ liệu an toàn nào được xác lập.
- Trẻ em: Cơ địa trẻ em có chức năng gan thận chưa hoàn thiện, việc dung nạp nước sắc chứa lượng lớn chất đắng và tannin có thể gây ngộ độc đường tiêu hóa hoặc tổn thương tế bào gan.
- Người có bệnh lý nền về gan, thận hoặc dạ dày: Hoạt chất từ vỏ cây tự nhiên chưa qua tinh chế có thể làm tăng gánh nặng chuyển hóa, gây viêm loét dạ dày hoặc suy giảm chức năng nội tạng.
- Bệnh nhân nghi ngờ mắc sốt rét: Cần đến ngay bệnh viện để xét nghiệm máu tìm ký sinh trùng, không dùng vỏ cây tự điều trị tại nhà dưới bất kỳ hình thức nào.
Áp dụng thực tế như thế nào cho đúng?
Người dân cần nhìn nhận các nghiên cứu về xà cừ như một hướng đi triển vọng trong ngành hóa dược nhằm tìm kiếm các khung phân tử mới phục vụ phát triển thuốc trong tương lai, chứ không phải một liệu pháp tự điều trị tại gia [4, 6].
Khi có các triệu chứng nghi ngờ sốt rét như rét run, sốt cao theo cơn, vã mồ hôi, đặc biệt là những người vừa trở về từ vùng có dịch lưu hành, biện pháp duy nhất đúng đắn là đến cơ sở y tế gần nhất. Bác sĩ sẽ thực hiện xét nghiệm lam máu nhuộm Giemsa hoặc test nhanh để xác định chủng ký sinh trùng và chỉ định phác đồ thuốc diệt sốt rét đã được Bộ Y tế cấp phép.
Người bệnh không nên tự ý thu hái, phơi khô hay sắc vỏ cây xà cừ mọc ngoài môi trường công cộng. Cây xà cừ trồng ven đường thường tích tụ khói bụi, kim loại nặng và hóa chất độc hại, việc đun sắc uống có thể gây ngộ độc kim loại nặng ngoài ý muốn. Nếu muốn dùng các loại thảo dược bổ trợ phục hồi thể trạng sau ốm, luôn cần tham khảo ý kiến của bác sĩ điều trị để tránh tương tác bất lợi với thuốc Tây y.



