Dược liệuEuphorbiaceae
Dầu mè
Jatropha curcas L.
Tên gọi khác: Dầu mè, Ba đậu nam, Dầu lai, Đông thụ, Nhao (Tày)
Chữa vết thương chảy máu, bong gân, mẩn ngứa, Eczema, phong.hủi, nhiễm trùng Trichomonas ở âm đạo (Lá). Ghẻ lở, mụn nhọt (dầu Hạt).Nấm tóc, các vết loét (Nhựa).
Cách sử dụng trong đời sống
- Hạt dầu mè có tác dụng tẩy mạnh nhưng vì có độc tính cao nên không dùng. Dùng nhựa mủ bôi lên vết thương hay vết loét, khi khô sẽ thành một màng che như kiểu màng colodion. Lá dầu mè giã nát đắp lên bụng để gây tẩy cho trẻ em, có khi còn được dùng ngoài chữa thấp khớp. Rễ dùng ngoài chữa tê liệt, bại liệt. Ở một số nước châu Á, nhựa mủ cây dầu mè được dùng ngoài để trị vết thương, cầm máu, bỏng, bệnh da như eczema và bệnh nấm da, vết loét, vết đứt, vết trầy da và ghẻ. Khi khô, nhựa làm thành một màng kín hơi. Lá dầu mè dùng ngoài chữa eczema, ngứa, tê, kỳ sinh trùng ghẻ, và là chất gây sung huyết da trị thấp khớp. Cành tươi dầu mè dùng để đánh răng, làm mạnh lợi, chữa lợi chảy máu hoặc có mủ. Dầu mè cũng là thuốc độc đối với cá. Hạt dầu mè giã nát hòa với dầu cua làm bả chuột. Dầu mè được dùng trị lở loét cho gia súc. Dùng lá xông khói trị rệp. Dịch ép lá bôi ngoài chữa trị. Dầu hạt trị bệnh da, thấp khớp, đau dây thần kinh hông, liệt. Lá dầu mè nghiền nát đắp trị sưng vú và làm lon sữa. Vỏ cây giã nát đắp trị bong gân, sai khớp. Ở một số nước châu Phi và Nam Mỹ, nhựa mủ cây dầu mè được dùng ngoài chữa vết thương, đau tai và để gây sung huyết da. Lá giã nát đắp trị thấp khớp và làm thuốc xua ruồi khỏi mắt ngựa. Ở Camơrun, dầu hạt được dùng làm chất phụ thêm vào hạt Strophanthus để làm thuốc độc tẩm mũi tên, làm mồi câu cá và bẫy gà rừng. Đơn thuốc: Loét mạn tính: Dùng dầu hạt lẫn với vaselin làm pomat bôi. Mẩn ngứa, eczema: Dùng lá Dầu mè tươi, giã nát và rịt. Ghi chú: Hạt r…
