Sức Khỏe Dinh Dưỡng
Khoai riềng

Ảnh: Ảnh từ tracuuduoclieu.vn (Viện Dược liệu) — đã đổi kích thước và chuyển WebP

Dược liệuCannaceae

Khoai riềng

Canna edulis Ker- Gawl.
Tên gọi khác: Mạy tao (Tày), Củ đao, Dong riềng, Jrơ ngai (Kho)
Tên tiếng Anh: African Arrowroot, Canna Plurituberosa, Cannon, Indian Canna

Thuốc bổ dạ dày (Rễ củ).

Cách sử dụng trong đời sống

  • Thân rễ (củ) dong riềng luộc ăn ngon. Nhân dân thường chế bột dong riềng làm bánh, làm miến (bún tàu) hoặc làm tá dược trong công nghệ dược phẩm. Trong củ dong riềng có tanin, nên một số người nhạy cảm với tanin, dễ bị táo bón khi ăn dong riềng. Rễ dong riềng được dùng chữa viêm gan, hoàng đản cấp tính. Dùng ngoài chữa đòn ngã, chấn thương, viêm mủ da. Hoa được dùng chữa xuất huyết ngoại thương. Liều dùng rễ 15 – 20g sắc uống, hoa 10 – 15g hãm trong nước sôi và dùng ngay. Để chữa viêm gan cấp, lấy rễ dong riềng tươi 60 – 90g sắc lấy nước, uống hàng ngày, có hiệu quả sau 1 tuần điều trị. Để chữa đòn ngã, chấn thương, lấy rễ tươi lượng vừa đủ, rửa sạch, giã nát, đắp tại chỗ. Ở Campuchia, rễ được dùng trị ghẻ cóc [Kirtikar ct al., 1998, IV: 2450) Ở Ấn Độ, rễ được dùng để lợi tiểu, làm ra mồ hội, làm dịu, để chữa phù và trị sốt [Chatterjee et al., 2001, VỊ: 172]. Hạt để chữa suy tim, chấn thương [Kirtikar et al., 1998, IV: 2450]. Ở Indonesia, bột thân rễ dong riềng để chữa bệnh đường ruột như tiêu chảy, viêm ruột, đau bụng [Med. herb index, 1995: 276]. Ở Guiana, nhân dân dùng rễ để lợi tiểu; thân rễ tươi giã nát.