Củ gấu (hương phụ, danh pháp khoa học Cyperus rotundus) là vị thuốc dân gian quen gian thuộc, thường được truyền tai như phương thuốc chữa đau bụng kinh, rối loạn tiêu hóa và viêm nhiễm. Tuy nhiên, việc sử dụng tùy tiện vị thảo dược này tiềm ẩn nhiều rủi ro sức khỏe nghiêm trọng. Những người có rối loạn đông máu, phụ nữ mang thai và người sắp phẫu thuật cần thận trọng và tránh dùng để ngăn ngừa biến chứng nguy hiểm.

Dù được ca tụng với nhiều công dụng chữa bệnh, các bằng chứng dược lý học hiện đại chỉ ra các hợp chất trong củ gấu tác động trực tiếp lên hệ tuần hoàn, tiểu cầu và cơ trơn tử cung. Những tác động này có thể làm nặng thêm tình trạng xuất huyết hoặc kích thích chuyển dạ ngoài ý muốn. Do đó, việc hiểu rõ đặc tính sinh học giúp phòng tránh nguy cơ ngộ độc hoặc tai biến y khoa.

Hoạt tính ức chế ngưng tập tiểu cầu và nguy cơ xuất huyết

Cơ chế sinh học then chốt khiến củ gấu trở nên rủi ro với một số nhóm người nằm ở hoạt tính chống kết tập tiểu cầu (anti-platelet) [1]. Tiểu cầu đóng vai trò then chốt trong việc tạo cục máu đông nhằm bịt kín các tổn thương mạch máu. Khi hoạt tính này bị ức chế, thời gian máu chảy kéo dài và khả năng tự cầm máu của cơ thể suy giảm rõ rệt.

Bên cạnh đó, dịch chiết thô từ củ gấu còn ghi nhận tác dụng làm giãn mạch đáng kể [2]. Cơ chế giãn mạch này được các nhà khoa học giả định là thông qua con đường chẹn kênh canxi [2]. Sự kết hợp giữa hạ trương lực mạch máu và cản trở tiểu cầu ngưng tập làm tăng áp lực lên hệ thống tuần hoàn, khiến vết thương hở khó đông máu hơn bình thường.

Một hợp chất hoạt tính quan trọng khác trong củ gấu là alpha-cyperone. Dữ liệu phòng thí nghiệm cho thấy chất này ức chế mạnh mẽ enzyme COX-2 và quá trình sản xuất prostaglandin E2 (PGE2) [3]. Việc can thiệp vào chuỗi sinh tổng hợp prostaglandin tương tự như các thuốc chống viêm không steroid, tác động gián tiếp lên chức năng thành mạch và tiểu cầu, gia tăng mức độ rủi ro chảy máu nội tạng.

Nghiên cứu khoa học nói gì về dược lý củ gấu?

Nghiên cứu công bố năm 2013 kiểm tra phân đoạn n-hexane từ dịch chiết củ gấu trên dòng tế bào RAW 264.7 [3]. Kết quả cho thấy phân đoạn này ức chế sự sản xuất oxit nitric (NO) và PGE2 [3]. Hoạt chất cô lập alpha-cyperone ngăn chặn sự biểu hiện gen và protein của thụ thể gây viêm COX-2 thông qua ức chế đường truyền tín hiệu NFkappaB [3]. Giới hạn lớn của nghiên cứu này là tiến hành hoàn toàn trên mô hình tế bào nuôi cấy trong ống nghiệm, chưa phản ánh đầy đủ tác động trên cơ thể người sống [3].

Một bài tổng quan toàn diện năm 2018 hệ thống hóa hàng trăm công trình dược lý về Cyperus rotundus [1]. Nghiên cứu xác nhận củ gấu thể hiện đặc tính chống kết tập tiểu cầu, chống co thắt, hạ huyết áp và giảm đau [1]. Dù mang lại triển vọng hỗ trợ điều trị, các tác giả nhấn mạnh cơ chế tác động chính xác của các phân tử đơn lẻ vẫn chưa được làm sáng tỏ và cần thêm các thử nghiệm lâm sàng chuyên sâu [1].

Ngoài ra, bài tổng quan năm 2021 phân tích tác dụng sinh học của các loài thuộc chi Cyperus [2]. Nghiên cứu tiền lâm sàng chỉ ra dịch chiết thô củ gấu có tác dụng chống co thắt và làm giãn mạch [2]. Mặt khác, chiết xuất củ gấu cũng được chứng minh có đặc tính chống loét dạ dày trên chuột cống bị tổn thương bởi thuốc giảm đau indomethacin [2]. Giới hạn là phần lớn dữ liệu này thu thập từ động vật gặm nhấm, chưa kiểm chứng liều lượng an toàn trên người [2].

3 nhóm người nên tránh dùng củ gấu

Căn cứ vào dữ liệu dược lý hiện có, nhóm đối tượng đầu tiên bắt buộc phải tránh củ gấu là người bị rối loạn đông máu. Củ gấu đã được chứng minh có hoạt tính chống kết tập tiểu cầu [1]. Ở bệnh nhân mắc bệnh ưa chảy máu (hemophilia) hoặc giảm tiểu cầu, sử dụng củ gấu có thể khiến máu không thể đông, dẫn tới xuất huyết dưới da kéo dài, chảy máu chân răng không dứt hoặc xuất huyết tiêu hóa nguy kịch.

Nhóm thứ hai là phụ nữ đang mang thai. Y học cổ truyền xếp củ gấu vào nhóm thuốc hành khí, phá huyết và điều kinh [1]. Mặc dù thử nghiệm trên chuột cống cái năm 2015 ghi nhận dịch chiết củ gấu liều 300 mg và 600 mg hỗ trợ tăng tiết sữa (lactogenic) thông qua kích thích prolactin [4], hiện tại hoàn toàn chưa có nghiên cứu an toàn nào trên phụ nữ mang thai. Nguy cơ co bóp cơ trơn tử cung và hoạt tính ức chế tiểu cầu [1] có thể đe dọa trực tiếp tính mạng thai nhi, làm tăng nguy cơ sảy thai hoặc sinh non.

Nhóm thứ ba là những người chuẩn bị bước vào phẫu thuật. Tác động chống kết tập tiểu cầu cùng hiệu ứng giãn mạch thông qua chẹn kênh canxi của củ gấu [2, 3] tạo thành mối nguy lớn trên bàn mổ. Khi phẫu thuật viên rạch mô, các mao mạch bị can thiệp sẽ rất khó cầm máu tự nhiên. Tình trạng này có thể gây mất máu lượng lớn trong phẫu thuật hoặc hình thành khối máu tụ hậu phẫu, gây nhiễm trùng và kéo dài thời gian phục hồi.

Hiểu lầm thường gặp về vị thuốc củ gấu

Nhiều người lầm tưởng củ gấu là thảo dược lành tính nên ai dùng cũng được và dùng bao nhiêu cũng an toàn. Một nghiên cứu trên chuột cái cho thấy liều uống 300 mg và 600 mg dịch chiết nước không gây ngộ độc cấp tính và làm tăng tiết sữa từ 23% đến 40% [4]. Tuy nhiên, an toàn trên động vật đang cho con bú không đồng nghĩa với an toàn cho phụ nữ mang thai hay người có bệnh lý nền [4].

Một ngộ nhận khác là củ gấu có thể thay thế thuốc kháng sinh trị mọi bệnh nhiễm khuẩn đường miệng. Thử nghiệm năm 2018 cho thấy dịch chiết cồn ức chế được vi khuẩn Streptococcus mutans và Aggregatibacter actinomycetemcomitans [5]. Tuy nhiên, một nghiên cứu khác thử nghiệm ba nồng độ 250 mg/ml, 500 mg/ml và 1000 mg/ml trên chủng chuẩn Streptococcus mutans (ATCC 25175) lại cho kết quả hoàn toàn không có hoạt tính ức chế [6]. Bằng chứng khoa học về tính kháng khuẩn còn mâu thuẫn, do đó không thể tùy tiện dùng củ gấu thay phác đồ y khoa chuẩn.

Thậm chí, trong việc giảm đau, thử nghiệm lâm sàng năm 2022 trên 153 người cho thấy tinh dầu củ gấu bôi ngoài da giúp giảm đau sau triệt lông bằng laser tốt hơn dung dịch muối, tương đương hydrocortisone [7]. Trên chuột cống, liều uống 500 mg/kg chiết xuất hoặc hoạt chất alpha-cyperone liều 480-800 mcg/kg tiêm màng bụng giúp giảm đau thần kinh do thuốc paclitaxel [8]. Dẫu vậy, các tác dụng giảm đau này chủ yếu giới hạn ở việc bôi ngoài da [7] hoặc nghiên cứu tiền lâm sàng trên động vật [8], không đại diện cho việc uống bừa bãi dịch chiết củ tươi.

Lời khuyên áp dụng thực tế an toàn

Người bình thường khi sử dụng củ gấu theo kinh nghiệm dân gian chỉ nên dùng với lượng vừa phải và không tự ý sắc uống liên tục trong thời gian dài. Hiện nay chưa có liều chuẩn hóa tuyệt đối cho việc tiêu thụ tự do ở người khỏe mạnh, ngoại trừ các liều thử nghiệm cụ thể trên mô hình động vật như 300-600 mg/kg [4] hoặc 500 mg/kg [8].

Những người chuẩn bị tiến hành bất kỳ cuộc phẫu thuật lớn hay can thiệp nha khoa nào cần ngừng tuyệt đối việc dùng củ gấu trước ngày mổ, đồng thời phải thông báo cho bác sĩ điều trị về tiền sử dùng thảo dược. Nếu đang uống thuốc chống đông, thuốc chống kết tập tiểu cầu hoặc thuốc hạ huyết áp, cần tham vấn bác sĩ chuyên khoa trước khi dùng để tránh tương tác bất lợi.

Củ gấu sở hữu nhiều hoạt tính sinh học giá trị nhưng không phải là phương thuốc vạn năng vô hại. Hiệu ứng chống viêm qua ức chế COX-2 [3], giãn mạch [2] và ngăn ngừa đông máu [1] biến dược liệu này thành mối đe dọa sức khỏe cho nhóm người rối loạn chảy máu, thai phụ và bệnh nhân chuẩn bị phẫu thuật. Sử dụng thảo dược cần dựa trên hiểu biết khoa học, tham khảo chuyên gia y tế thay vì tin vào kinh nghiệm truyền miệng thiếu kiểm chứng.