Nhiều người thường nhầm lẫn hà thủ ô trắng với hà thủ ô đỏ và tự ý mua về ngâm rượu, sắc nước uống để bồi bổ sức khỏe. Tuy nhiên, theo các nghiên cứu thực vật và dược lý hiện đại, hà thủ ô trắng (tên khoa học là Streptocaulon juventas) chứa nhiều hoạt chất sinh học mạnh, tiềm ẩn nguy cơ ngộ độc cao nếu dùng sai đối tượng hoặc thiếu kiểm soát y khoa.

Nếu bạn đang thắc mắc ai không nên dùng dược liệu này, câu trả lời trực tiếp là: người mắc bệnh tim mạch, phụ nữ mang thai, trẻ em và người bị suy giảm chức năng thận cần hết sức thận trọng hoặc tránh dùng tùy tiện khi chưa có chỉ định chuyên môn từ bác sĩ.

Bối cảnh và sự nhầm lẫn phổ biến giữa các loại hà thủ ô

Trong dân gian, tên gọi "hà thủ ô" thường gợi liên tưởng đến bài thuốc làm đen râu tóc và bồi bổ khí huyết. Tuy nhiên, hà thủ ô đỏ (Fallopia multiflora) và hà thủ ô trắng (Streptocaulon juventas) là hai loài thực vật hoàn toàn khác nhau về thành phần hoạt chất lẫn độc tính.

Hà thủ ô trắng thuộc họ La bố ma (Apocynaceae), mọc tự nhiên ở nhiều vùng rừng núi nước ta và từng được nghiên cứu tại các địa phương khác nhau [1]. Do thiếu kiến thức phân biệt thảo dược, không ít người đã đào rễ cây hoặc mua dược liệu trôi nổi trên thị trường để sử dụng lâu dài, dẫn đến nguy cơ tích tụ độc chất gây hại cho cơ thể.

Việc tự ý phối hợp dược liệu hoặc dùng liều cao dạng rượu ngâm khi cơ thể có sẵn bệnh lý nền có thể gây ra những biến cố sức khỏe nghiêm trọng. Do đó, việc hiểu rõ bản chất hoạt chất của cây là yếu tố sống còn trước khi cân nhắc sử dụng.

Cơ chế tác động: Hoạt chất tim mạch tiềm ẩn rủi ro

Các phân tích hóa thực vật hiện đại đã chỉ ra rằng rễ của cây hà thủ ô trắng chứa nhóm hợp chất glycoside trợ tim (cardiac glycosides) rất mạnh [2]. Cụ thể, các nhà khoa học đã phân lập được các phân tử như digitoxigenin, periplogenin và các dẫn xuất glycoside từ chiết xuất rễ của loài này [2], [3].

Về mặt sinh lý học, glycoside trợ tim tác động trực tiếp lên hoạt động co bóp của cơ tim. Ở nồng độ kiểm soát chặt chẽ trong y học, chúng có thể hỗ trợ điều trị, nhưng khoảng an toàn điều trị của nhóm chất này rất hẹp. Khi hấp thu vào cơ thể với liều lượng không xác định qua đường uống dân gian, các chất này dễ gây rối loạn nhịp tim hoặc làm trầm trọng thêm tình trạng bệnh tim sẵn có.

Ngoài ra, các nghiên cứu cũng ghi nhận chiết xuất cồn của rễ hà thủ ô trắng có hoạt tính ức chế tế bào thông qua cơ chế kích hoạt quá trình tự chết của tế bào (apoptosis) [2], [1]. Tác động gây độc tế bào này đòi hỏi các cơ quan chuyển hóa và bài tiết như gan, thận phải làm việc để đào thải, đồng thời tiềm ẩn nguy hiểm đối với các mô đang phát triển.

Bằng chứng từ các nghiên cứu khoa học cụ thể

Nghiên cứu về thành phần và hoạt tính sinh học của hà thủ ô trắng đã được tiến hành trên mô hình tế bào và động vật thí nghiệm qua nhiều năm.

Năm 2002, một nghiên cứu sàng lọc dịch chiết từ 77 cây thuốc Việt Nam đã kiểm tra hoạt tính kháng tăng sinh tế bào trên dòng tế bào ung thư HT-1080 [1]. Kết quả cho thấy chiết xuất methanol, methanol-nước (1:1) và chiết xuất nước từ rễ hà thủ ô trắng (Streptocaulon juventas) thu hái ở 2 địa phương đều thể hiện hoạt tính ức chế tế bào phụ thuộc vào nồng độ [1]. Khi thử nghiệm tiếp trên các dòng tế bào khác, chiết xuất này thể hiện tính chọn lọc đối với tế bào HeLa và tế bào biểu mô ung thư phổi người A549, làm biến đổi hình thái và phân mảnh DNA chỉ ra cơ chế gây chết tế bào [1].

Năm 2010, một nghiên cứu tiếp tục đánh giá phân đoạn chiết xuất cồn 75% từ rễ cây này trên chuột nhắt trần thiếu hụt tuyến ức (athymic nude mice) mang khối u phổi người A549 [3]. Sau khi tinh chế, phân đoạn hoạt tính chứa digitoxigenin, periplogenin và periplogenin glucoside đã ức chế đáng kể sự phát triển khối u vào ngày thứ 10 và ngày thứ 15 của đợt điều trị mà không gây ra tác dụng phụ rõ rệt trên trọng lượng cơ thể hay các chỉ số sinh hóa máu của chuột thí nghiệm [3].

Năm 2013, nghiên cứu sâu hơn về thành phần hóa học của chiết xuất ethanol 75% từ rễ hà thủ ô trắng đã cô lập được 2 glycoside trợ tim mới cùng với 13 hợp chất cardenolide đã biết [2]. Thử nghiệm in vitro trên dòng tế bào ung thư phổi A549 và PC-9 cho thấy 7 glycoside trợ tim có hoạt tính gây độc tế bào mạnh thông qua quá trình kích hoạt tế bào tự chết [2].

Về hoạt tính làm lành vết thương, một nghiên cứu công bố năm 2017 trên mô hình vết thương cắt bỏ ở chuột nhắt đã sử dụng dịch chiết ethanol rễ hà thủ ô trắng với liều 100 mg/kg/ngày [4], [5]. Kết quả sau 7 ngày điều trị ghi nhận sự rút ngắn đáng kể thời gian đóng vết thương, lượng tế bào viêm trong mô hạt giảm 2,3 lần, nguyên bào sợi tăng 1,7 lần và tăng cường tân tạo mạch máu [4]. Phân tích phân tử cho thấy biểu hiện gen TNF-alpha và NF-kappaB1 giảm lần lượt 4,7 và 3,7 lần, trong khi biểu hiện gen TGF-beta1 và VEGF tăng lần lượt 1,9 và 6,5 lần [4].

Bốn nhóm đối tượng cần tránh dùng tùy tiện

Dựa trên thành phần glycoside trợ tim và đặc tính gây độc tế bào đã được chứng minh, có 4 nhóm đối tượng cần đặc biệt lưu ý:

Thứ nhất là người mắc bệnh tim mạch. Vì rễ cây chứa các cardenolide và glycoside trợ tim như digitoxigenin và periplogenin [2], [3], việc tự ý sử dụng qua đường uống có thể can thiệp trực tiếp vào nhịp tim, dẫn đến nguy cơ loạn nhịp nguy hiểm. Người có bệnh lý tim tuyệt đối không tự điều trị bằng dược liệu này.

Thứ hai là phụ nữ mang thai. Hiện tại, chưa có nghiên cứu an toàn nào về việc sử dụng hà thủ ô trắng trên phụ nữ mang thai; các dữ liệu hiện có mới chỉ dừng lại ở thử nghiệm trên tế bào và động vật thí nghiệm [4], [2], [1], [3]. Đặc tính gây chết tế bào theo chu trình và các hoạt chất steroid tác động tim mạch khiến thảo mộc này không phù hợp cho phụ nữ trong thai kỳ do rủi ro chưa lường trước được đối với thai nhi.

Thứ ba là trẻ em. Cơ thể trẻ nhỏ có cơ quan chuyển hóa chưa hoàn thiện và nhạy cảm hơn nhiều với các glycoside trợ tim. Tương tự như thai phụ, chưa có nghiên cứu lâm sàng nào chứng minh tính an toàn của hà thủ ô trắng trên trẻ em, do đó cha mẹ không nên cho con sử dụng các bài thuốc truyền miệng từ loại cây này.

Thứ tư là người bị suy giảm chức năng thận. Việc chuyển hóa và đào thải các phân đoạn hoạt chất phức tạp từ thảo dược đòi hỏi cơ chế bài tiết bình thường. Người bệnh thận nếu hấp thu các chất có hoạt tính sinh học mạnh mà không thể bài tiết hiệu quả sẽ đối mặt với tình trạng tích lũy độc chất, gây quá tải cho hệ tiết niệu.

Giới hạn của các bằng chứng khoa học hiện nay

Các bằng chứng hiện có về hà thủ ô trắng chỉ giới hạn trong phòng thí nghiệm (in vitro) trên các dòng tế bào nuôi cấy hoặc trên mô hình chuột thí nghiệm [4], [2], [1], [3]. Cho đến nay, chưa có thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng nào trên người để xác định liều lượng an toàn, độc tính trường diễn hay tương tác thuốc khi sử dụng toàn thân.

Mặc dù các nghiên cứu đã phát hiện ra tiềm năng kháng tế bào bất thường và hỗ trợ tái tạo mô vết thương ngoài da ở động vật [4], [1], [3], điều này không đồng nghĩa với việc người bệnh có thể sử dụng cây thuốc thô để tự chữa bệnh. Khoảng cách từ nghiên cứu chiết xuất trong ống nghiệm đến áp dụng lâm sàng thực tế trên người là rất lớn.

Hơn nữa, một số tài liệu độc học khác chỉ đề cập đến kháng sinh quinolone đối với khớp hay sụn ở trẻ em mà không liên quan đến hà thủ ô trắng, cho thấy người tiêu dùng rất dễ bị nhiễu loạn thông tin khi tìm kiếm tài liệu an toàn dược phẩm.

Lời khuyên áp dụng an toàn và đúng cách

Nếu bạn muốn sử dụng thảo dược để chăm sóc sức khỏe, trước hết cần xác định chính xác danh tính của loại cây đó thông qua nguồn cung cấp uy tín, tránh nhầm lẫn giữa hà thủ ô trắng và hà thủ ô đỏ.

Đối với các ứng dụng làm lành mô ngoài da, nghiên cứu thực nghiệm ở động vật sử dụng chiết xuất bôi tại chỗ [4], [5]. Nếu bạn có vết thương hở, không nên tự ý đắp bột rễ hoặc lá cây tươi chưa qua xử lý vô trùng lên da để tránh bội nhiễm vi khuẩn.

Bất kỳ ai thuộc nhóm nguy cơ cao như có bệnh tim, bệnh thận, đang mang thai hoặc người cao tuổi đều phải tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa hoặc bác sĩ y học cổ truyền trước khi dùng bất kỳ chế phẩm nào chứa rễ cây này. Việc uống rượu thuốc ngâm rễ cây không rõ nguồn gốc là thói quen xấu cần loại bỏ.

Tóm lại, hà thủ ô trắng là một vị thuốc có hoạt tính sinh học mạnh nhờ chứa các glycoside trợ tim và hợp chất ức chế tế bào. Việc sử dụng cần có sự cẩn trọng cao độ, tuyệt đối không tự ý dùng cho người có bệnh tim mạch, suy thận, phụ nữ có thai và trẻ nhỏ để bảo đảm an toàn tính mạng.