Sức Khỏe Dinh Dưỡng
Trang chủ/Dược liệu/Hà thủ ô đỏ
Hà thủ ô đỏ

Ảnh: Ảnh từ tracuuduoclieu.vn (Viện Dược liệu) — đã đổi kích thước và chuyển WebP

Dược liệuPolygonaceae

Hà thủ ô đỏ

Reynoutria multiflora (Thunb.) Moldenke
Tên gọi khác: Xạ ú sí (Dao), Khua lình (Thái), Má ỏn, Mằn năng ón (Tày), Dạ giao đằng
Tên tiếng Anh: Chinese Fleeceflower, Chinese Knotweed, Chinese Fleece Flower, Tuber Fleeceflower

Thuốc bổ máu, đen râu tóc. Chữa đau xương, di tinh, sốt (Rễ củ sắc hoặc ngâm rượu uống).

Cách sử dụng trong đời sống

  • Theo y học cổ truyền: Rễ hà thủ ô có tác dụng bổ máu, chữa thận suy, gan yếu, thần kinh suy nhược, ngủ kém, sốt rét kinh niên, thiếu máu, đau lưng mỏi gối, di mộng tinh, khí hư, đại tiểu tiện ra máu, khô khát táo bón, da mẩn ngứa không có mủ. Uống lâu làm đen râu tóc đối với người bạc tóc sớm, làm tóc đỡ khô và đỡ rụng. Hà thủ ô chế có tác dụng bổ gan, thận, ích tinh huyết, dùng làm thuốc an thần, bổ và tăng lực trong các chứng đau thân thể suy yếu, hoa mắt, chóng mặt, tim hồi hộp, nhức đầu, mất ngủ, suy nhược thần kinh. Liều dùng: Ngày uống 6 – 20g, thuốc sắc, rượu thuốc hoặc bột. Trong y học cổ truyền Trung Quốc: Hà thủ ô sống tươi và khô có tác dụng thông tiểu, giải độc, tiêu ung thủng, chữa táo bón cho phụ nữ sau khi đẻ hoặc người già, mụn nhọt, ghẻ lở, eczema, tràng nhạc. Có thể phối hợp với hạ khô thảo, kim ngân hoa. Ở Ấn Độ, rễ hà thủ ô đỏ được dùng làm thuốc bổ, chống bệnh scorbut và làm đen tóc. Nó còn có tác dụng đối với bệnh tăng đường máu. Một chế phẩm của hà thủ ô đỏ được dùng cho phụ nữ sau khi đẻ. Rễ hà thủ ô được dùng trong y học cổ truyền Trung Quốc và Nhật Bản để điều trị viêm da mủ, bệnh lậu, bệnh nấm gavut ở chân, bệnh viêm và tăng lipid máu.