Nhiều người thường xem axit folic và folate là một chất dinh dưỡng duy nhất đại diện cho vitamin B9. Tuy nhiên, hai dạng này có nguồn gốc, cấu trúc hóa học và cách cơ thể xử lý rất khác nhau [2, 3]. Việc hiểu rõ cơ chế hấp thu giúp bạn lựa chọn đúng cách bổ sung dưỡng chất này mà không gây hại cho sức khỏe.

Về bản chất, folate tự nhiên từ thực phẩm hấp thu chậm hơn và sinh khả dụng thấp hơn axit folic tổng hợp [2, 5]. Ngược lại, axit folic nhân tạo dễ hấp thu qua đường tiêu hóa nhưng nếu nạp quá liều, cơ thể không kịp chuyển hóa hết, dẫn đến hiện tượng tích tụ axit folic tự do trong máu [2, 4].

Bản chất hóa học và cách cơ thể hấp thu folate tự nhiên

Vitamin B9 trong thức ăn tự nhiên tồn tại dưới dạng tetrahydrofolate hoặc dihydrofolate có gắn chuỗi polyglutamate [1]. Những dạng tự nhiên này hoạt động như các coenzyme trong quá trình trao đổi chất của tế bào [1]. Tuy nhiên, cấu trúc này kém bền, dễ bị phân hủy không hồi phục qua quá trình đun nấu và chế biến [1].

Để cơ thể hấp thu được folate tự nhiên từ thức ăn, chuỗi polyglutamate phải trải qua quá trình thủy phân cắt ngắn thành dạng monoglutamate [2]. Quá trình này diễn ra tại riềm bàn chải của tế bào niêm mạc ruột non nhờ enzyme folate conjugase [2]. Sau khi chuyển thành dạng đơn phân, folate được vận chuyển vào tế bào chủ yếu qua chất vận chuyển phụ thuộc proton (PCFT) hoạt động tối ưu ở độ pH axit từ 5 đến 6 [2].

Chính vì cần trải qua bước cắt ngắn cấu trúc này và dễ bị hao hụt khi tiếp xúc nhiệt độ, tỷ lệ hấp thu của folate tự nhiên dao động lớn [2, 6]. Ước tính sinh khả dụng trung bình của folate từ nguồn thực phẩm chỉ đạt khoảng 50% [1].

Axit folic tổng hợp: Ổn định và sinh khả dụng vượt trội

Axit folic là dạng tổng hợp hóa học, không có sẵn trong thực phẩm nguyên bản [1]. Cấu trúc của axit folic ở dạng oxy hóa, không bị khử, không gắn thêm nhóm chức và không chứa chuỗi liên kết polyglutamate phức tạp [2, 6]. Nhờ đặc điểm này, axit folic có tính bền nhiệt cao, chống lại sự phân hủy oxy hóa tốt hơn rất nhiều so với folate tự nhiên [1].

Khi vào đường ruột, axit folic không cần trải qua bước enzyme cắt tỉa chuỗi mà có thể hấp thu trực tiếp [2, 6]. Do đó, sinh khả dụng của axit folic tổng hợp lên tới 85% [1]. Con số này cao gấp khoảng 1,7 lần so với folate từ thực phẩm tự nhiên [2, 6].

Dựa trên đặc tính hấp thu chênh lệch, các nhà khoa học đã thiết lập khái niệm Đương lượng Folate Thực phẩm (DFE) [2, 5]. Theo quy đổi chuẩn, 1 microgam axit folic nhân tạo tương đương với 1,7 microgam folate tự nhiên từ chế độ ăn uống thường ngày [1].

Các bằng chứng khoa học so sánh độ hấp thu thực tế

Để làm rõ sự khác biệt giữa hai dạng, nhiều công trình nghiên cứu can thiệp đã được tiến hành trên cơ thể người [5, 7].

Một thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng công bố năm 2004 đã so sánh độ hấp thu của folate tự nhiên với axit folic tổng hợp [3]. Nghiên cứu theo dõi 96 nam giới trong 30 ngày, chia làm 4 nhóm: nhóm dùng giả dược, nhóm uống 200 microgam axit folic viên nén, nhóm dùng 200 microgam folate từ rau bina (50% polyglutamyl), và nhóm dùng 200 microgam folate từ men (100% polyglutamyl) [3]. Kết quả cho thấy nhóm uống axit folic viên nén ghi nhận folate huyết thanh tăng rõ rệt và giảm nồng độ homocysteine có ý nghĩa thống kê so với giả dược [3]. Ngược lại, hai nhóm dùng folate từ thực phẩm không đem lại thay đổi đáng kể [3]. Độ hấp thu của folate từ rau bina chỉ đạt 30% và từ men chỉ đạt 59% so với axit folic [3].

Một thử nghiệm can thiệp khác kéo dài 4 tuần trên 72 người lớn khỏe mạnh công bố năm 2007 cho kết quả khả quan hơn đối với thực phẩm [4]. Nhóm can thiệp ăn thực đơn giàu folate với 369 microgam/ngày từ trái cây, rau củ và gan động vật kết hợp viên giả dược, đối chiếu với các nhóm ăn thực đơn nghèo folate (73 microgam/ngày) kèm viên uống axit folic các mức liều 92, 191 và 289 microgam/ngày [4]. Đồng thời, các đối tượng được uống viên đánh dấu đồng vị 13C11-folic acid [4]. Kết quả chỉ ra độ hấp thu gộp của folate từ rau quả và gan đạt khoảng 78% đến 85% so với axit folic [4]. Nghiên cứu này khẳng định folate tự nhiên từ khẩu phần phong phú có thể bù đắp dưỡng chất hiệu quả hơn mức định kiến thông thường [4].

Bên cạnh đó, một nghiên cứu năm 2018 so sánh chuyển hóa chất ở phụ nữ dùng 500 microgam axit folic tổng hợp so với nhóm dùng 250 microgam folate từ thực phẩm [5]. Dù hai nhóm đạt hiệu quả cải thiện nồng độ folate máu tương đương nhau, xét nghiệm hồ sơ chất chuyển hóa huyết tương lại ghi nhận sự khác biệt lớn ở 6 hợp chất thuộc chu trình chuyển hóa một carbon gồm glycine, choline, betaine, formate, histidine và threonine [5]. Điều này chứng minh axit folic và folate nội sinh được cơ thể điều phối qua các ngả biến dưỡng khác nhau [5].

Tuy nhiên, các phương pháp đo lường sinh khả dụng vẫn còn hạn chế. Đa phần các nghiên cứu trước đây dùng thiết kế liều đơn, yêu cầu tiêm hoặc uống lượng lớn vitamin trước khi đo khiến việc đánh giá mức độ hấp thu từ khẩu phần tổng thể thiếu tính chuẩn xác [6]. Giới nghiên cứu khuyến cáo cần áp dụng phương pháp đo liều chia nhỏ lặp lại để phản ánh sát thực tế [6].

Nguy cơ tích tụ axit folic chưa chuyển hóa (UMFA)

Mặc dù axit folic tổng hợp có độ hấp thu cao, cơ chế chuyển hóa bên trong cơ thể lại tiềm ẩn điểm nút thắt nghẽn [1].

Axit folic sau khi vượt qua niêm mạc ruột non cần được enzyme dihydrofolate reductase (DHFR) biến đổi thành các dạng folate khử tự nhiên để tế bào sử dụng [1]. Phần lớn chuyển hóa diễn ra ở niêm mạc ruột và gan [2, 6]. Tuy nhiên, enzyme DHFR ở cơ thể người hoạt động chậm và rất dễ rơi vào tình trạng bão hòa [1].

Khi lượng axit folic nạp vào quá cao từ viên bổ sung hoặc thực phẩm tăng cường, men DHFR không kịp xử lý [2, 4]. Hệ quả là axit folic nguyên dạng chưa chuyển hóa (UMFA) sẽ tràn vào vòng tuần hoàn máu [2, 4]. Hiện tượng này ghi nhận có mặt ở 40% người cao tuổi và phổ biến ở nhóm thường xuyên dùng viên uống bổ sung [7].

Tích tụ UMFA trong huyết thanh gây ra nhiều lo ngại cho sức khỏe [7]. Nghiên cứu chỉ ra dư thừa UMFA liên quan trực tiếp đến tình trạng suy giảm chức năng miễn dịch ở phụ nữ mãn kinh [7]. Ở mức độ tế bào, việc tiếp xúc quá mức với axit folic làm giảm hiệu quả của một số thuốc chống tăng sinh khối u và thúc đẩy đặc tính tế bào gốc ung thư biểu mô đại trực tràng trong các thử nghiệm in vitro [7]. Mối liên hệ giữa axit folic liều cao và bệnh lý tuyến tiền liệt ở nam giới cũng được cảnh báo, dù các dữ liệu lâm sàng hiện vẫn ghi nhận kết quả đa chiều [7].

Những hiểu lầm thường gặp

Hiểu lầm phổ biến nhất là coi "uống viên bổ sung axit folic càng nhiều càng tốt" do suy nghĩ vitamin tan trong nước sẽ tự đào thải [2, 4]. Thực tế, enzyme chuyển hóa có giới hạn, việc nạp vượt quá giới hạn trên (UL) làm xuất hiện axit folic tự do gây hại trong máu [2, 4].

Hiểu lầm thứ hai là "ăn thực phẩm không thể cung cấp đủ nhu cầu folate". Dù rau củ có độ sinh khả dụng thấp hơn axit folic tinh khiết, nhưng việc duy trì chế độ ăn đa dạng các loại rau lá xanh, đậu, hoa quả và gan động vật vẫn có thể cải thiện nồng độ folate cơ thể một cách hiệu quả và tự nhiên mà không lo tích tụ axit folic chưa chuyển hóa [4].

Những ai nên thận trọng?

Người lớn tuổi và phụ nữ mãn kinh cần đặc biệt chú ý kiểm soát nguồn bổ sung axit folic nhân tạo, do tỷ lệ phát hiện UMFA trong máu ở nhóm đối tượng này rất cao [7]. Dư thừa chất này làm giảm hoạt động của hệ thống miễn dịch tự nhiên [7].

Bệnh nhân đang điều trị ung thư hoặc có nguy cơ cao về bệnh lý tuyến tiền liệt cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa trước khi dùng thực phẩm chức năng chứa axit folic [7]. Thử nghiệm cho thấy dư thừa axit folic có thể cản trở tác dụng của thuốc điều trị khối u và nồng độ folate huyết thanh quá cao có liên quan tới sự tăng sinh tế bào ung thư tuyến tiền liệt [7].

Gợi ý chế độ ăn và bổ sung khoa học

Để cơ thể hấp thu đủ lượng vitamin B9 mà hạn chế thấp nhất nguy cơ tích tụ chất dư thừa chưa chuyển hóa, bạn có thể áp dụng các biện pháp dinh dưỡng sau:

  • Ưu tiên thực phẩm nguyên bản: Tăng cường các loại rau có màu xanh đậm (như rau bina), các loại đậu đỗ, men dinh dưỡng và gan động vật trong bữa ăn hàng ngày [3, 5, 7]. Đây là nguồn cung cấp folate tự nhiên an toàn tuyệt đối cho cơ thể [8].
  • Chế biến hợp lý: Các dạng folate tự nhiên rất dễ bị phân hủy bởi nhiệt độ cao và quá trình chế biến kéo dài [1]. Nên ưu tiên hấp sơ hoặc ăn tươi sống đối với các loại rau quả giàu folate thay vì ninh nấu quá kỹ [2, 3].
  • Cân nhắc liều lượng viên uống: Không tự ý dùng các loại viên uống chứa liều axit folic cao kéo dài trừ khi có chỉ định của bác sĩ đối với các giai đoạn đặc biệt như chuẩn bị mang thai nhằm phòng ngừa dị tật ống thần kinh [2, 3]. Luôn kiểm tra thành phần vi chất trên nhãn thực phẩm tăng cường để tránh vô tình cộng dồn liều lượng vượt quá mức khuyến nghị [2, 4].

Cân bằng giữa việc tăng cường rau củ giàu folate tự nhiên trong chế độ ăn và dùng viên bổ sung đúng liều lượng là chìa khóa duy trì sức khỏe tối ưu [8]. Trước khi bắt đầu sử dụng bất kỳ loại thực phẩm chức năng bổ sung axit folic nào, đặc biệt khi có bệnh lý nền, bạn cần tham vấn ý kiến chuyên môn từ bác sĩ để được hướng dẫn phù hợp.