Nhiều người truyền tai nhau dùng bạch mộc hương (trầm hương, tên khoa học Aquilaria sinensis) nấu nước uống để tiêu khối u ung thư. Đây là tin đồn thổi phồng, tiềm ẩn nhiều nguy cơ đối với sức khỏe người bệnh.
Bạch mộc hương không thể chữa khỏi ung thư ở người. Mọi tác dụng ức chế tế bào ác tính mới chỉ dừng lại ở thử nghiệm hóa học trên đĩa nuôi cấy nhân tạo trong phòng thí nghiệm, chưa từng qua thử nghiệm lâm sàng trên cơ thể người.
Cơ chế ức chế tế bào trong đĩa thí nghiệm
Cây bạch mộc hương chứa nhiều nhóm chất tự nhiên có hoạt tính sinh học. Trong điều kiện nhân tạo, các nhà khoa học tách chiết từng hợp chất tinh khiết rồi nhỏ trực tiếp lên khối tế bào ung thư để đo mức độ gây độc tế bào.
Các phân tử này can thiệp vào quá trình phân chia của tế bào ác tính, làm ngừng chu kỳ tăng sinh hoặc kích thích tế bào tự chết theo chương trình. Tuy nhiên, đĩa petri khác xa hệ tuần hoàn, gan, thận và hệ miễn dịch phức tạp của cơ thể người. Một chất độc với tế bào trong ống nghiệm chưa chắc đã hấp thu được qua đường tiêu hóa hay giữ nguyên hoạt tính khi vào máu.
Nghiên cứu từ hoa bạch mộc hương
Một nghiên cứu công bố năm 2022 phân lập các hoạt chất từ dịch chiết cồn của hoa bạch mộc hương (Aquilaria sinensis) [1]. Nhóm nghiên cứu thu được một hợp chất triterpenoid dạng cucurbitane mới là aquilarolide A cùng 5 hợp chất đã biết [1].
Khi thử nghiệm độc tính tế bào trên các dòng ung thư phổi người gồm SPC-A-1, NCI-H520, A549 và dòng kháng thuốc paclitaxel (A549/Taxol), 4 hợp chất (aquilarolide A, cucurbitacin E, cucurbitacin B và 7-hydroxy-6-methoxy-2-[2-(4-methoxyphenyl)ethyl]-4H-1-benzopyran-4-one) cho thấy hoạt tính gây độc tế bào rõ rệt [1].
Giá trị IC50 (nồng độ ức chế 50% tế bào) của 4 chất này dao động từ 0,002 đến 0,91 micromol/L, thể hiện khả năng ức chế dòng tế bào A549/Taxol tốt hơn cả thuốc paclitaxel vốn có IC50 là 1,80 micromol/L [1]. Trong đó, cucurbitacin E có hoạt tính mạnh nhất với IC50 đạt 0,002 micromol/L [1].
Dù số liệu rất ấn tượng trên tế bào nuôi cấy, các tác giả nghiên cứu khẳng định đây mới là bước đầu, cần tiếp tục làm thêm các thử nghiệm trên sinh vật sống (in vivo) để đánh giá hoạt tính chống u cũng như làm rõ cơ chế tác động [1]. Hiện chưa có bằng chứng cho thấy hoa bạch mộc hương dùng dạng thô có tác dụng tương tự trên người.
Bằng chứng từ nụ hoa, lá và thân cây
Không chỉ hoa, các bộ phận khác của cây bạch mộc hương cũng được đem vào phòng thí nghiệm để sàng lọc hóa thực vật.
Năm 2017, các nhà khoa học tách chiết được 4 hợp chất benzophenone glycoside mới mang tên aquilaside A-D cùng 5 hợp chất đã biết từ dịch chiết methanol của nụ hoa bạch mộc hương [2]. Khi thử nghiệm độc tính tế bào và kháng viêm, aquilaside B và C thể hiện mức gây độc tế bào trung bình đối với dòng tế bào u hắc tố SK-MEL với chỉ số IC50 lần lượt là 17,0 và 12,0 micromol/L [2]. Hai chất này cũng ức chế yếu hoạt tính của NF-kappaB ở nồng độ 100 micromol/L với tỷ lệ lần lượt là 30% và 60% [2].
Trước đó, năm 2013, một nghiên cứu trên lá cây bạch mộc hương phân lập được 2 chất triterpenoid tirucallane mới (aquilacallanes A-B) và 15 chất đã biết [3]. Khi đánh giá trên 5 dòng tế bào ung thư người, hai chất quen thuộc là axit ursolic và 5,7,4'-trimethoxyflavone chỉ biểu hiện độc tính tế bào yếu đối với một số dòng tế bào [3].
Năm 2011, một nghiên cứu khác chiết xuất từ thân cây tươi bạch mộc hương thu được một sesquiterpene thoái hóa mới tên là aquilarin B cùng 2 chất đã biết [4]. Khi thử nghiệm trên 3 dòng tế bào khối u người (K562, SMMC-7721, SGC-7901), chỉ có chất số 3 cho thấy hoạt tính gây độc tế bào rõ rệt [4].
Tất cả các thử nghiệm trên đều dừng lại ở mức sàng lọc hoạt tính của các phân tử đơn lẻ trên đĩa tế bào cô lập, hoàn toàn không tương đương với việc dùng thân, lá, hay nụ hoa sắc uống để trị bệnh ung thư.
Khoảng cách từ đĩa petri đến cơ thể người
Các nghiên cứu khoa học thật chứng minh bạch mộc hương có chứa các hợp chất có hoạt tính sinh học [3], [1], [2], [4]. Đây là tiền đề tốt để hóa dược tìm kiếm phân tử thuốc mới.
Tuy nhiên, giới hạn lớn nhất là hoàn toàn thiếu vắng thử nghiệm lâm sàng. Tế bào nuôi cấy tiếp xúc trực tiếp với hóa chất nồng độ cao trong đĩa thủy tinh [1]. Khi người bệnh uống nước sắc thảo dược, các chất phải trải qua chuyển hóa dịch vị dạ dày, chuyển hóa tại gan, phân bố qua thành ruột và hệ tuần hoàn.
Hơn nữa, nồng độ hoạt chất tinh khiết diệt được tế bào trong ống nghiệm cao gấp hàng trăm lần nồng độ có thể thu được từ việc đun nấu thông thường [1]. Việc chiết xuất cần dung môi hữu cơ như cồn (EtOH) hay methanol [1], [2], nước đun tại nhà không thể thu đủ hoạt chất có hoạt tính.
Những hiểu lầm nguy hiểm thường gặp
Hiểu lầm phổ biến nhất là đánh đồng cụm từ "có hoạt tính ức chế tế bào ung thư" trong báo cáo khoa học với "chữa khỏi bệnh ung thư trên người". Hai khái niệm này cách nhau nhiều giai đoạn phát triển thuốc kéo dài hàng chục năm.
Nhiều người còn tin rằng thảo dược tự nhiên hoàn toàn vô hại, uống càng đặc càng nhanh teo u. Thực tế, các chất như cucurbitacin B, E vốn có độc tính tế bào rất mạnh [1], nếu dùng tùy tiện mà không có kiểm soát liều lượng có thể gây độc cho các tế bào lành, suy gan hoặc suy thận cấp.
Sai lầm nghiêm trọng nhất là tự ý bỏ phác đồ điều trị chuẩn (phẫu thuật, hóa trị, xạ trị) để chuyển sang uống trà lá, nước sắc bạch mộc hương. Điều này làm lỡ thời gian vàng điều trị, khiến khối u di căn không thể kiểm soát.
Những ai cần tuyệt đối thận trọng?
Người đang mắc bệnh ung thư tuyệt đối không tự ý dùng các chế phẩm bạch mộc hương thay thế phác đồ bác sĩ chỉ định.
Người bệnh đang hóa trị hoặc dùng các loại thuốc chống ung thư như paclitaxel cần tránh dùng thảo dược lạ [1]. Các thành phần hóa thực vật chưa rõ tương tác có thể làm giảm hiệu lực thuốc hoặc gia tăng độc tính phá hủy tạng của hóa chất điều trị.
Người có tiền sử viêm loét dạ dày, suy giảm chức năng gan, thận, phụ nữ có thai và cho con bú không nên tự ý dùng các loại dịch chiết thảo mộc cô đặc khi chưa có hướng dẫn y tế chuyên biệt.
Lời khuyên áp dụng thực tế an toàn
Nếu gia đình có sẵn trà lá hoặc nụ hoa bạch mộc hương rõ nguồn gốc, chỉ nên xem đây là thức uống giải khát thông thường với lượng vừa phải, không dùng dạng cô đặc kéo dài.
Khi chế biến, chỉ nên hãm nhẹ với nước sôi như trà thông thường, không tự ý ngâm rượu thuốc hay chiết dung môi đậm đặc để uống trị bệnh.
Người mắc bệnh mạn tính hay ung thư cần tuân thủ nghiêm ngặt phác đồ y khoa hiện đại. Trước khi bổ sung bất kỳ loại trà thảo mộc nào vào chế độ ăn, phải thông báo và hỏi ý kiến bác sĩ điều trị trực tiếp để tránh tương tác bất lợi.
Bạch mộc hương là dược liệu quý mang lại nhiều phân tử tiềm năng trong nghiên cứu hóa dược ức chế tế bào ung thư [1]. Dù vậy, người dân cần tỉnh táo nhận diện ranh giới giữa thử nghiệm đĩa petri và hiệu quả trên người thật, tuyệt đối không dùng thảo dược thô để tự trị bệnh nan y.









