Nhiều thai phụ ăn chay hoặc kiêng sữa bò tìm đến mè đen, đậu hũ làm nguồn bù canxi. Quan niệm dân gian xem đây là nguồn dồi dào khoáng chất tự nhiên giúp xây dựng hệ xương thai nhi vững chắc.

Thực tế sinh học phức tạp hơn tổng lượng ghi trên nhãn. Canxi thực vật khó giải phóng do vướng rào cản từ axit phytic cùng oxalate, khiến tỷ lệ hấp thu thực tế vào máu thấp hơn nhiều so với dự tính.

Cơ chế hấp thu canxi và rào cản axit phytic

Nhu cầu dưỡng chất tăng cao trong thai kỳ và giai đoạn cho con bú nhằm hỗ trợ sự phát triển thai nhi cùng quá trình tạo sữa mẹ [1]. Cơ thể mẹ có cơ chế tự điều chỉnh: tỷ lệ hấp thu canxi tăng khoảng 2 lần khi mang thai, nhưng giảm về mức bình thường lúc nuôi con bú [1]. Ở phụ nữ duy trì chế độ ăn ít canxi trường diễn, hiệu suất hấp thu phân đoạn có thể tăng lên hơn 80% trong chu kỳ sinh sản [1]. Tuy nhiên, cơ chế thích ứng này bị hạn chế nếu khoáng chất bị khóa chặt bởi các hợp chất kháng dinh dưỡng từ thực vật.

Chế độ ăn dựa trên thực vật chứa nhiều axit phytic và axit oxalic, đi kèm sinh khả dụng kẽm thấp làm cản trở quá trình hấp thu lẫn giữ lại canxi của cơ thể [2]. Axit phytic (phytate) hiện diện nhiều trong ngũ cốc nguyên hạt, các loại đậu và hạt hạch [3]. Chất này hoạt động như tác nhân tạo phức chelate, gắn kết mạnh với ion canxi cũng như kẽm ở lòng ruột, tạo thành muối không tan khó phân giải [3, 5].

Hạt mè cùng các loại hạt có sinh khả dụng canxi thấp hơn so với các nguồn thực vật ít oxalate [3]. Sinh khả dụng canxi từ nguồn thực vật bị ảnh hưởng trực tiếp bởi hàm lượng oxalate và phytate [3]. Đậu hũ và các sản phẩm từ đậu nành thuộc nhóm thực vật ít oxalate có sinh khả dụng tốt hơn, nhưng nếu dùng kèm thực phẩm giàu phytate, lượng khoáng thực nhận vẫn chịu hao hụt [3]. Do đó, việc tính đủ tổng lượng canxi trên lý thuyết không đồng nghĩa thai nhi nhận đủ khoáng chất cho cấu trúc xương.

Bằng chứng khoa học về sinh khả dụng canxi thực vật

Sinh khả dụng phản ánh tỷ lệ chất dinh dưỡng ăn vào được hấp thu và giữ lại phục vụ cơ thể [1]. Nhiều thử nghiệm đã phân tích sự chênh lệch hấp thu giữa các nguồn thực phẩm khác nhau.

Năm 2008, một thử nghiệm ngẫu nhiên đánh giá sinh khả dụng canxi từ cà rốt biến đổi gen tăng biểu hiện chất vận chuyển canxi sCAX1 so với cà rốt thường [4]. Thử nghiệm trên 120 con chuột đo lường lượng 45-Ca tích hợp vào xương cho thấy chuột ăn cà rốt đối chứng cần khẩu phần gấp đôi mới đạt lượng canxi tương đương nhóm ăn cà rốt sCAX1 [4]. Thử nghiệm chéo trên người gồm 15 nam và 15 nữ trưởng thành dùng phương pháp đồng vị bền kép cho thấy tổng lượng canxi hấp thu trên mỗi 100 g cà rốt ở giống sCAX1 cao hơn 41% +/- 2% so với giống đối chứng [4]. Kết quả chỉ ra việc biến đổi cấu trúc vận chuyển thực vật là hướng đi nhân tạo nhằm khắc phục hạn chế hấp thu canxi từ rau củ tự nhiên [4].

Ảnh hưởng tiêu cực của chất kháng dinh dưỡng thực vật đối với mô xương được chứng minh rõ rệt qua mô hình động vật năm 1995 [5]. Nghiên cứu tiến hành trên chuột đực non (3-4 tuần tuổi) và chuột già (24 tháng tuổi) ăn chế độ hạn chế canxi (0,15%) với nguồn canxi từ rau bina (giàu oxalate) hoặc sữa bột tách béo (NFDM), so sánh với nhóm đối chứng dùng casein 0,5% canxi trong 60 ngày [5]. Phân tích mô học đốt sống thắt lưng thứ 5 ở chuột non ăn rau bina ghi nhận sự chậm phát triển và khoáng hóa của xương bè [5]. Nhóm chuột non ăn rau bina giảm khoáng hóa chất nền xương, kích thích tiêu xương dẫn đến giảm thể tích xương xuống còn 0,027 mm3, so với 0,059 mm3 ở nhóm sữa tách béo và 0,068 mm3 ở nhóm casein [5]. Chuột già phản ứng với nguồn canxi sinh khả dụng thấp bằng cách huy động dự trữ khung xương, khiến thể tích xương giảm xuống 0,057 mm3, so với 0,060 mm3 ở nhóm sữa tách béo và 0,073 mm3 ở nhóm casein [5]. Nguồn canxi sinh khả dụng thấp từ thực vật ức chế lắng đọng khoáng chất, làm suy giảm cả lượng lẫn chất lượng xương [5].

Năm 2007, một nghiên cứu trên cây họ đậu Medicago truncatula biến đổi gen đột biến cod5 (không chứa tinh thể oxalate) tiến hành đo lường trên chuột chia đều hai giới [6]. Kết quả phân tích độ hấp thu chất đánh dấu ở chân chuột sau 1 ngày tiêu thụ khẩu phần dán nhãn nội tại cho thấy: lượng canxi hấp thu ở chuột ăn giống cod5 cao hơn 22,87% so với giống hoang dã chứa oxalate tự nhiên (P < 0,001) [6]. Đây là minh chứng cụ thể cho thấy việc loại bỏ tinh thể oxalate giúp tăng sinh khả dụng canxi thực vật đáng kể [6].

Tác động của chế độ ăn thực vật lên mật độ xương

Nghiên cứu NuEva (2020) chỉ ra chế độ ăn thực vật cung cấp nhiều magie, kali, vitamin K và dưỡng chất thực vật chống viêm có lợi cho mật độ khoáng xương (BMD) [2]. Ngược lại, việc tiêu thụ sản phẩm sữa đem lại nguồn canxi, protein giá trị sinh học cao và vitamin D cải thiện sức khỏe xương [2]. Chế độ ăn chay hoàn toàn (thuần chay) cung cấp ít protein hơn (giảm khoảng 30% so với người ăn tạp), đồng thời chứa ít vitamin D, vitamin B12, canxi và axit béo n-3 LC-PUFA [2]. Đánh giá BMD trên thanh niên tiêu thụ thịt (n=27), ăn chay có trứng sữa (n=27) và thuần chay (n=28) từ 1 năm trở lên cho thấy chế độ ăn thuần chay liên quan đến giá trị BMD thấp hơn đáng kể so với người ăn thịt [2].

Mẹ bầu thuần chay ghi nhận lượng canxi nạp vào thấp hơn mức khuyến nghị [3]. Sự kết hợp giữa khẩu phần canxi thấp và hàm lượng axit phytic, oxalate cao từ hạt mè, các loại đậu có thể gây trở ngại cho quá trình tích lũy khoáng chất thai kỳ [3, 5].

Những hiểu lầm phổ biến khi bổ sung canxi thai kỳ

Sai lầm thường thấy là quy đổi trực tiếp khối lượng thực phẩm thành lượng canxi cơ thể tiếp nhận. Mè đen có hàm lượng canxi ghi nhận trên bảng thành phần rất cao, nhưng đi kèm tỷ lệ axit phytic cùng sinh khả dụng kém hơn nhóm rau ít oxalate [3]. Nếu thai phụ chỉ ăn mè đen nghiền mà không xử lý kỹ thuật, lượng canxi thực tế hấp thu vào tuần hoàn không đạt mức mong đợi.

Một ngộ nhận khác là canxi từ mọi loại rau củ đều lành và dễ hấp thu như nhau. Thực tế sinh khả dụng canxi phân hóa rất mạnh giữa các giống thực vật: rau bina và đại hoàng có sinh khả dụng canxi thấp; ngược lại, cải thìa, bông cải xanh, cải bắp thấu (cải thảo Trung Quốc), cải xoăn có độ khả dụng canxi cao do chứa ít oxalate [3]. Đậu hũ và sản phẩm đậu nành xếp vào nhóm hấp thu tốt hơn hạt mè, nhưng phụ thuộc quy trình chế biến [3]. Ngoài ra, nguồn nước cứng tự nhiên giàu canxi và magie từ nước ngầm đá vôi cũng là nguồn canxi bổ sung hữu ích [3].

Axit phytic không chỉ cản trở canxi mà còn làm giảm sinh khả dụng của sắt phi heme và kẽm [3, 5]. Khẩu phần ăn chay có tỷ lệ hấp thu sắt ước tính chỉ đạt 10% so với 18% ở chế độ ăn có thịt [3]. Sự ức chế của axit phytic lên kẽm dẫn đến khuyến cáo người ăn thực vật cần tăng 50% nhu cầu kẽm so với người bình thường [3].

Đối tượng cần đặc biệt thận trọng

Thai phụ ăn thuần chay hoàn toàn cần cảnh giác cao độ trước nguy cơ thiếu hụt vi chất. Nhóm này thường có mức nạp canxi thực tế thấp hơn khuyến nghị, đồng thời đối diện nguy cơ thiếu kẽm do phytate [3, 5].

Phụ nữ mang thai có tiền sử loãng xương, giảm mật độ xương hoặc tiền sử sỏi thận oxalate cần thận trọng khi tiêu thụ lượng lớn các loại hạt, mè đen hay rau giàu oxalate. Việc cải thiện sinh khả dụng canxi là khả thi thông qua các nguyên tắc chế biến thực phẩm thích hợp [7]. Nếu có bệnh lý chuyển hóa hoặc kém hấp thu đường ruột, thai phụ cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa hoặc chuyên gia dinh dưỡng để được chỉ định xét nghiệm và kê đơn chế phẩm bổ sung an toàn, không tự ý dựa hoàn toàn vào thực phẩm thô.

Giải pháp thực tế nhằm tối ưu hấp thu canxi

Cải thiện sinh khả dụng canxi trong bữa ăn gia đình hoàn toàn có thể thực hiện được thông qua kỹ thuật chế biến đơn giản với chi phí hợp lý [7].

Nên ưu tiên các nguồn thực vật có sinh khả dụng canxi cao, chứa ít oxalate bao gồm: cải thìa, bông cải xanh, bắp cải Trung Quốc, cải rổ, cải xoăn, đậu bắp, lá củ cải và các sản phẩm từ đậu nành như đậu hũ [3]. Hạt mè, sữa đậu nành tăng cường canxi, hạnh nhân, đậu đỏ và đậu trắng có thể sử dụng xen kẽ nhưng cần biết sinh khả dụng của chúng thấp hơn đôi chút [3].

Đối với hạt mè, ngũ cốc nguyên hạt và các loại đậu giàu axit phytic, nên áp dụng các bước ngâm nước, ủ mầm hoặc nấu chín kỹ để kích hoạt enzyme phân giải bớt phytate, giải phóng ion khoáng tự do [5, 8]. Khi dùng đậu hũ, ưu tiên loại đậu hũ truyền thống được kết tủa bằng muối canxi để gia tăng hàm lượng khoáng. Có thể tận dụng thêm nguồn nước cứng tự nhiên giàu canxi và magie trong sinh hoạt hằng ngày [3]. Để hỗ trợ vi chất toàn diện, nên bổ sung thực phẩm giàu vitamin C (cà chua, trái cây có múi) khi ăn đậu đỗ nhằm tăng hấp thu sắt phi heme, nấu bằng chảo gang và duy trì chế độ ăn đa dạng [3].

Mè đen và đậu hũ là nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng nhưng sinh khả dụng canxi bị chi phối bởi axit phytic cùng oxalate [3, 5]. Để đảm bảo nhu cầu tạo khung xương vững chắc cho thai nhi, thai phụ cần phối hợp đa dạng các loại rau ít oxalate, xử lý hạt đúng cách và tham vấn bác sĩ để theo dõi vi chất định kỳ [1, 5, 8].