Hoạt chất chính và cơ chế đã biết của hoa cúc la mã
Hoa cúc la mã (Matricaria recutita) chứa nhiều hợp chất hoạt chất, trong đó các flavonoid và saponin được xác định là những thành phần chính gây ra hoạt tính sinh học. Nghiên cứu phytochemical cho thấy hoa cúc la mã có hoạt tính kháng oxy hóa mạnh, giúp giảm stress oxy hóa liên quan đến bệnh lý viêm [1]. Một số nghiên cứu sơ bộ cũng chỉ ra rằng chiết xuất hoa cúc la mã có thể ức chế phản ứng dị ứng do tế bào mast gây ra, thông qua cơ chế bảo vệ tế bào và giảm giải phóng các mediator dị ứng [2].
Tác dụng sinh học tiềm năng
Một số nghiên cứu sơ bộ cho thấy thực phẩm bổ sung hoa cúc la mã có thể hữu ích đối với rối loạn lo âu lan tỏa và trầm cảm đi kèm. Ngoài ra, một số sản phẩm chứa kết hợp thảo mộc bao gồm hoa cúc la mã cũng được ghi nhận có lợi cho tiêu chảl ở trẻ em bị colic. Tuy nhiên, chỉ sử dụng đơn lẻ hoa cúc la mã chưa được chứng minh là hiệu quả cho các tình trạng này. Ở bể ngoài da, nước súc miệng chứa hoa cúc la mã có thể phòng ngừa hoặc điều trị sưng kích ứng do xạ trị hoặc hóa trị, dựa trên cơ chế kháng viêm và chống dị ứng [2].
Các vấn đề cần lưu ý và chống chỉ đối
Dù có lợi thế an toàn khi dùng ngắn hạn qua đường uống, da, hoặc súc miệng ở cả người lớn và trẻ em, nhưng hoa cúc la mã có thể gây tác dụng phụ như buồn nôi, chóng mặt, hoặc dị ứng nặng ở một số cá nhân nhạy cảm. Những người dị ứng với cỏ phấn hương, cúc đại đóa, cúc vạn thọ hoặc cúc họa mi có nguy cơ phản ứng dị ứng cao hơn khi tiếp xúc với hoa cúc la mã.
Ngoài ra, hoa cúc la mã có tính chất tương tự estrogen, do đó có thể làm giảm hiệu quả của thuốc tránh thai và trầm trọng thêm các bệnh lý nhạy cảm với estrogen như ung thư vú hoặc tử cung. Cũng có bằng chứng cho thấy hoa cúc la mã có thể tương tác với một số thuốc gan như warfarin hoặc thuốc an thần. Vì vậy, bất kỳ người đang dùng thuốc nào cũng nên tham khảo với nhân viên y tế trước khi sử dụng sản phẩm chứa hoa cúc la mã.
Hiện chưa có đủ bằng chứng cho thấy hoa cúc la mã an toàn trong thai kỳ hoặc cho con bú, và các tác dụng lâu dài chưa được nghiên cứu rõ rệt. Mọi quyết định sử dụng nên dựa trên tư vấn chuyên gia y tế.
