Cây bông ổi (ngũ sắc, trâm ổi) mọc hoang khắp bờ rào, bãi đất trống. Nhiều người truyền tai nhau bài thuốc hái lá sắc nước uống trị viêm họng, dạ dày, tiêu chảy hay mẩn ngứa.
Thói quen tự ý sắc uống này tiềm ẩn rủi ro tử vong. Dữ liệu độc học ghi nhận khoảng cách liều trị liệu và liều ngộ độc của thảo dược này rất hẹp. Độc tố tích lũy nhanh, phá hủy tế bào gan, suy thận và ức chế thần kinh trung ương.
Cây thuốc dân gian hay bụi cây chứa độc tố?
Bông ổi có tên khoa học Lantana camara, thuộc họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae) [1]. Cây chứa triterpenoid độc tính cao (lantadene A, lantadene B) gây nhiễm độc cấp và mạn tính cho gia súc, động vật có vú [4, 5].
Nhiều người lầm tưởng thảo dược tự nhiên vô hại. Tại các vùng chăn thả, gia súc ăn phải cây này thường tử vong do nhiễm độc mật và suy đa tạng [5, 6]. Con người tiếp xúc lâu ngày trong môi trường nhiều cây này cũng chịu tác động tiêu cực về sức khỏe [2].
Nước sắc lá bông ổi tự chế khó kiểm soát hàm lượng hoạt chất. Ranh giới giữa liều có tác dụng dược lý và liều hủy hoại cơ thể gần như không có khoảng an toàn.
Tác động kháng viêm, bảo vệ dạ dày trong phòng thí nghiệm
Nhiều nghiên cứu dược lý tìm cách bóc tách tác dụng của cây bông ổi. Báo cáo năm 2011 thử nghiệm cao chiết methanol từ lá bông ổi trên các mô hình chuột bị loét dạ dày tá tràng do aspirin (kết hợp thắt môn vị), do cồn và do cysteamine [1].
Liều uống thử nghiệm 250 mg/kg và 500 mg/kg làm giảm chỉ số loét, giảm độ acid toàn phần và tăng pH dạ dày rõ rệt (P < 0,01) [1]. Cao chiết giảm peroxy hóa lipid, tăng glutathione dạng khử, ức chế vi khuẩn Helicobacter pylori với đường kính vòng vô khuẩn 20 mm [1].
Ở chuột cống dùng nước ép lá liều 1500 mg/kg/ngày liên tục 14 ngày, mô hạt dạng hạt viêm giảm mạnh, tương đương chất ức chế miễn dịch cyclophosphamide liều 10 mg/kg/ngày [3]. Nước ép ở liều này hạ đường huyết đáng kể [3].
Dù có tiềm năng kháng viêm, giảm loét, các tác dụng trên mới dừng ở cấp độ động vật thí nghiệm, chưa chứng minh tính an toàn trên người.
Giảm tiêu chảy nhờ làm tê liệt nhu động ruột
Trong y học dân gian, lá bông ổi hay dùng trị đau bụng đi ngoài. Nghiên cứu năm 2005 trên chuột nhắt làm rõ cơ chế chống nhu động ruột này [4].
Chuột uống cao chiết methanol lá liều 500 mg/kg làm giảm nhu động ruột, độ lưu chuyển than hoạt chỉ còn 26,46% [4]. Liều 1000 mg/kg ức chế hoàn toàn quá trình lưu chuyển qua ruột [4]. Ở mô hình chuột dùng thuốc kích thích nhu động neostigmine, tỷ lệ di chuyển than hoạt giảm còn 24% và 11% tương ứng hai liều trên [4].
Khi tiêm phúc mạc liều 125 và 250 mg/kg, lượng phân ở chuột tiêu chảy do dầu thầu dầu giảm mạnh; ở liều 500 và 1000 mg/kg, chuột ngừng đi ngoài hoàn toàn [4].
Cơ chế này tương tự chất kháng cholinergic, làm tê liệt nhu động cơ trơn [4]. Dùng quá liều gây liệt ruột, bí đại tiện nặng nề, bụng chướng hơi và ứ đọng chất độc [4, 5].
Bằng chứng tổn thương gan cấp và suy tạng
Thực nghiệm cho thấy độc tính trên gan bộc lộ nhanh và nặng nề khi dùng bột lá bông ổi. Nghiên cứu năm 2007 trên chuột cống trắng Wistar cái dùng bột lá bông ổi ghi nhận men gan tăng vọt [5].
Nồng độ AST trong huyết thanh tăng 84% ở nhóm B và 120% ở nhóm C; tại mô gan, mức tăng lần lượt là 66% và 258% [5]. Men ALT huyết thanh tăng 165% (nhóm B) và 219% (nhóm C); trong mô gan tăng 46% (nhóm B) và 216% (nhóm C) [5]. Men ALP huyết thanh tăng từ 30% đến 300% tùy liều [5]. Nồng độ protein tổng số tăng trong huyết thanh nhưng sụt giảm ở mô gan [5]. Dù peroxy hóa lipid mô gan giảm 22% đến 55% (cho thấy có hoạt tính chống oxy hóa), bột lá bông ổi vẫn gây nhiễm độc gan hoại tử trầm trọng [5].
Nghiên cứu độc tính cấp năm 2011 tiêm phúc mạc cao chiết lá (phân đoạn phân cực và không phân cực) cho chuột nhắt ở liều 1,5, 3,0 và 5,0 g/kg [6]. Cả hai phân đoạn đều gây chết chuột, tập trung sau 2 ngày dùng [6].
Giải phẫu tử thi chuột ghi nhận hoàng đảm (vàng da, vàng niêm mạc) nặng, mất nước, táo bón, thoái hóa gan (hepatosis), sung huyết tim và phổi, thoái hóa thận (nephrosis) [6]. Độc tố phân đoạn không cực chứa triterpenoid làm chuột giảm vận động, bất động nhiều, ức chế rõ rệt hệ thần kinh trung ương [6].
Nước ép lá tươi nghiên cứu năm 1997 cũng cho thấy chuột uống liều 600 và 1500 mg/kg/ngày trong 14 ngày bị tăng mạnh ure máu (BUN), phì đại tuyến thượng thận ở mọi mức liều từ 60 mg/kg/ngày trở lên [3]. Lượng bạch cầu lympho, protein toàn phần và globulin giảm sâu, cảnh báo độc tính ức chế tủy và suy giảm miễn dịch [3].
Nguy cơ vô sinh và tổn hại sinh sản
Không chỉ tàn phá gan, thận, lá bông ổi còn tấn công cơ quan sinh sản. Nghiên cứu năm 2003 thử nghiệm cao chiết cồn-nước lá bông ổi trên chuột cống đực ghi nhận tác động xấu trực tiếp tới khả năng sinh sản [2].
Dù không làm sụt cân tổng thể hay thay đổi trọng lượng nội tạng, dịch chiết lá bông ổi làm suy giảm số lượng tinh trùng, giảm sản lượng sinh tinh hàng ngày và tăng tỷ lệ tinh trùng dị dạng [2]. Mức độ độc hại tăng thuận theo liều lượng sử dụng [2]. Nam giới uống nước lá bông ổi đối mặt rủi ro suy giảm chất lượng tinh dịch và hiếm muộn.
Hiểu lầm tai hại: Càng đắng càng mát gan
Nhiều người tin cây cỏ đắng giúp thanh nhiệt giải độc, trị mụn nhọt, bệnh gan. Đây là sai lầm nguy hiểm. Vị đắng của bông ổi đến từ các hợp chất triterpene độc chứ không phải hoạt chất bổ dưỡng.
Thực nghiệm chứng minh chất độc lá bông ổi làm men gan ALT, AST tăng tới hàng trăm phần trăm, phá hủy nhu mô gan, gây ứ mật vàng da [3, 5]. Uống nước sắc bông ổi để "chữa nóng gan" biến lá gan khỏe mạnh thành gan tổn thương, hoại tử tế bào.
Mọi bộ phận của cây, đặc biệt là lá và quả xanh, đều chứa độc chất. Việc tự hái đun uống không giúp chữa lành bệnh mà đẩy cơ thể vào tình trạng nhiễm độc.
Ai tuyệt đối không được dùng?
Mọi đối tượng không tự ý sắc uống lá bông ổi. Những nhóm người sau đặc biệt nguy hiểm tính mạng nếu tiếp xúc:
- Người có tiền sử viêm gan, xơ gan, men gan cao: Hoạt chất độc làm bùng phát suy gan cấp [5].
- Người suy thận, rối loạn chức năng bài tiết: Tăng áp lực lọc, gây tăng ure huyết [1, 5].
- Nam giới trong độ tuổi sinh sản: Nguy cơ biến dạng tinh trùng, giảm số lượng tinh trùng [2].
- Trẻ em, phụ nữ mang thai và cho con bú: Độc tố ức chế thần kinh, suy tạng diễn tiến rất nhanh [6].
- Người bị táo bón, tắc ruột cơ học: Dược tính ức chế nhu động ruột làm tình trạng tắc nghẽn nặng hơn [4, 5].
Khuyến cáo sử dụng an toàn trong đời sống
Người dân cần ngừng ngay việc tự hái lá bông ổi sắc uống hàng ngày. Các nghiên cứu hiện tại chỉ phục vụ chiết xuất phòng thí nghiệm, chưa có phác đồ y khoa cho phép dùng dịch sắc thô qua đường tiêu hóa.
Nếu muốn dùng bông ổi ngoài da (rửa vết thương phần mềm ngoài da, sát trùng mẩn ngứa), chỉ dùng đun rửa bên ngoài, tuyệt đối không uống, không bôi lên vết thương hở sâu. Khi có biểu hiện đau bụng, vàng mắt, tiểu sẫm màu, nôn mửa sau khi lỡ uống nước sắc bông ổi, cần đến ngay cơ sở y tế gần nhất để giải độc.
Bông ổi là cây chứa độc tính cao với khoảng cách an toàn rất hẹp. Đừng đánh đổi tính mạng cho những bài thuốc truyền miệng chưa được khoa học chứng thực. Người bệnh dạ dày, đại tràng hay viêm nhiễm cần thăm khám bác sĩ chuyên khoa để tiếp cận phác đồ điều trị chuẩn mực.


