Thói quen dùng cây dầu lai có củ trị mụn nhọt và thực tế

Trong dân gian, nhiều người có thói quen hái lá hoặc bẻ cành lấy mủ cây dầu lai có củ (còn được gọi là ngô đồng cảnh) để bôi trực tiếp lên các nốt mụn bọc, mụn nhọt sưng đau. Kinh nghiệm truyền miệng cho rằng mủ cây có thể "hút ngòi", làm xẹp khối sưng và giúp vết thương nhanh khô miệng. Tuy nhiên, việc áp dụng bài thuốc này khi da đang tổn thương tiềm ẩn không ít nguy cơ nhiễm trùng.

Câu trả lời từ y học hiện đại là: Chưa có bằng chứng thử nghiệm lâm sàng trên người chứng minh dầu lai có củ có thể điều trị mụn nhọt một cách an toàn và dứt điểm. Dữ liệu khoa học trực tiếp về loài cây này hiện rất sơ khai, mới dừng ở mức sàng lọc hoạt tính trong ống nghiệm. Hầu hết các dữ liệu kháng khuẩn và làm lành mô da được ghi nhận trên các loài thực vật cùng chi Dầu lai (Jatropha) ở mức độ tế bào và động vật thí nghiệm.

Dầu lai có củ có thực sự chữa được mụn nhọt ngoài da?

Mụn nhọt là tình trạng viêm hoại tử cấp tính ở nang lông và mô liên kết xung quanh, nguyên nhân hàng đầu do tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus) gây ra. Khi vi khuẩn xâm nhập, cơ thể kích hoạt phản ứng viêm làm sưng đỏ, đau nhức và tạo mủ. Để một dược liệu trị được mụn nhọt, chất đó phải có khả năng ức chế vi khuẩn, kháng viêm và phục hồi biểu bì da mà không gây kích ứng hay nhiễm độc tế bào.

Đối với cây dầu lai có củ (tên khoa học là Jatropha podagrica), các nghiên cứu dược lý quốc tế chưa xác nhận việc bôi tươi mủ cây lên da người là một phương pháp điều trị mụn nhọt chuẩn mực. Một số nghiên cứu trong phòng thí nghiệm cho thấy chiết xuất từ cây này có hoạt tính ức chế vi sinh vật [1]. Tuy nhiên, từ hoạt tính sinh học trong ống nghiệm đến một chế phẩm bôi ngoài da đạt chuẩn là một khoảng cách rất lớn. Người bệnh không nên nhầm lẫn giữa tác dụng sinh học bước đầu của hoạt chất tinh khiết với việc dùng cây tươi tự chữa bệnh tại nhà.

Cơ chế kháng khuẩn và phục hồi tổn thương từ góc nhìn sinh học

Khi xem xét chi Dầu lai (Jatropha) nói chung, các nhà khoa học nhận thấy nhóm thực vật này sở hữu nhiều hợp chất tự nhiên có khả năng can thiệp vào tiến trình lành thương và viêm nhiễm. Các hoạt chất thứ cấp phân lập từ dịch cây bao gồm peptide vòng, flavonoid, alkaloid, saponin và các hợp chất phenolic [2] [3] [4].

Cơ chế kháng khuẩn của các dịch chiết này chủ yếu thể hiện qua việc ức chế sự phát triển của các chủng vi khuẩn Gram dương và Gram âm thường gặp ở vết thương [5] [3]. Về mặt phục hồi mô, dịch chiết kích thích sự tăng sinh của nguyên bào sợi, thúc đẩy quá trình tổng hợp collagen và tạo mô hạt, giúp mép vết thương thu nhỏ nhanh hơn [2] [6]. Một số thành phần có hoạt tính dọn gốc tự do, hạn chế tổn thương oxy hóa tại vùng mô bị viêm [2] [3]. Đồng thời, các chiết xuất có thể làm giảm phản ứng phù nề tại chỗ thông qua việc điều hòa các chất trung gian hóa học gây viêm [5] [3].

Các nghiên cứu khoa học ghi nhận những gì?

Để đánh giá tính xác thực của kinh nghiệm dân gian, y học thực nghiệm đã thực hiện nhiều thử nghiệm trên các loài thuộc chi Jatropha. Các nghiên cứu này cung cấp cái nhìn chi tiết về hiệu lực cũng như giới hạn sinh học của từng loài thực vật.

Nghiên cứu công bố năm 2014 đã khảo sát hoạt tính kháng khuẩn và kháng ký sinh trùng in vitro của dịch chiết cây dầu lai có củ (Jatropha podagrica) thu hái tại Nigeria [1]. Nghiên cứu này đánh giá song song ba loài cây thuốc gồm Persea americana, Picralima nitida và Jatropha podagrica [1]. Kết quả xác nhận các dịch chiết và phân đoạn của các loài cây thử nghiệm, trong đó có Jatropha podagrica, thể hiện hoạt tính kháng khuẩn và kháng ký sinh trùng ở các nồng độ thử nghiệm [1]. Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ dừng ở mức sàng lọc in vitro và chưa phân tích chi tiết nồng độ ức chế tối thiểu đối với từng chủng vi khuẩn mụn nhọt cụ thể của riêng Jatropha podagrica [1].

Trong khi dữ liệu trên dầu lai có củ còn hạn chế, các loài cùng chi Jatropha lại được nghiên cứu khá sâu về đặc tính kháng khuẩn vết thương. Nghiên cứu năm 2016 đánh giá chiết xuất cồn lá cây dầu lai nhiều hoa (Jatropha multifida) [5]. Thử nghiệm kháng khuẩn theo phương pháp pha loãng vi lượng của NCCLS trên các chủng vi khuẩn phân lập từ vết thương cho thấy chiết xuất ức chế vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa và Staphylococcus aureus phụ thuộc vào liều [5]. Nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) đối với Staphylococcus aureus nằm trong khoảng từ 2,5 đến 3,12 mg/mL, và đối với Pseudomonas aeruginosa là từ 6,25 đến 12,5 mg/mL [5]. Trên mô hình chuột cống bị phù chân, chiết xuất thể hiện tác dụng kháng viêm tối đa sau 3 giờ dùng histamine và sau 5 giờ dùng carrageenan, đồng thời có hoạt tính chống oxy hóa yếu qua thử nghiệm DPPH và FRAP [5].

Đối với mủ cây Dầu lai vùng Mexico (Jatropha neopauciflora), một nghiên cứu năm 2017 trên mô hình động vật gặm nhấm và tế bào in vitro cho thấy mủ cây có hoạt tính kháng khuẩn kìm khuẩn, nhạy cảm nhất với vi khuẩn Gram dương, đặc biệt là Staphylococcus aureus với nồng độ MIC là 2 mg/mL [3]. Mủ cây không có hoạt tính kháng nấm [3]. Khi đánh giá khả năng làm lành vết thương bằng phương pháp đo độ bền kéo, mủ cây thể hiện hiệu quả tương đương nhóm đối chứng dương dùng thuốc Recoveron [3]. Thử nghiệm phù bàn chân chuột cho thấy mủ dùng đường uống có tác dụng kháng viêm tốt nhất và không gây độc trên 2 dòng tế bào thử nghiệm [3]. Phân tích hóa học chỉ ra mủ chứa nồng độ phenolic tổng 6,9 mg GAE/mL, flavonoid 12,53 microg QE/mL, protein 7,62 microg/mL và carbohydrate 18,52 microg/mL (trong đó đường fructose chiếm 79,03%, tương đương 14,63 microg/mL) [3].

Về ứng dụng tại chỗ, nghiên cứu năm 2020 đã bào chế dạng xịt từ dịch chiết mủ cây dầu mè (Jatropha curcas) để làm lành vết thương [2]. Phân tích quang phổ 1H-NMR và khối phổ xác định hoạt chất tinh khiết là curcacycline A [2]. Công thức xịt từ dịch mủ thể hiện hoạt tính kháng khuẩn và quét dọn gốc tự do, không gây độc cho tế bào nguyên bào sợi của người, kích thích sản sinh collagen và chữa lành tổn thương tế bào trong 24 giờ [2].

Một nghiên cứu khác năm 2020 đánh giá dạng kem bôi từ mủ cây Jatropha gaumeri trên 50 con chuột đực Balb/c (10-12 tuần tuổi) chia thành 10 nhóm, mỗi nhóm 5 con [7]. Chuột được tạo vết thương tròn đường kính khoảng 1 cm ở vùng cạnh sống lưng và điều trị bôi ngoài da mỗi 24 giờ trong 22 ngày [7]. Kết quả cho thấy phân đoạn dịch mủ dạng nước đạt hiệu quả làm lành vết thương lên tới 97%, vượt trội hơn nhóm đối chứng dương dùng kem A-Derma [7]. Mô học cho thấy mô tái tạo tương tự da lành với sự xuất hiện của collagen, tái tạo nang lông và cấu trúc biểu mô có tổ chức, trong đó alkaloid được xác định là nhóm chất chính tạo nên tác dụng này [7].

Năm 2006, nghiên cứu tại Ấn Độ trên chuột cống trắng Wistar chia làm 3 nhóm (mỗi nhóm 12 con) gồm nhóm chứng nước muối, nhóm dùng chiết xuất vỏ cây Jatropha curcas liều 2 ml/kg thể trọng và nhóm dùng liều 4 ml/kg thể trọng [6]. Kết quả ghi nhận chiết xuất vỏ cây làm tăng độ bền đứt gãy của da và mô hạt, tăng co bóp vết thương, tăng trọng lượng khô mô hạt và tăng hàm lượng hydroxyproline, đồng thời rút ngắn đáng kể thời gian biểu mô hóa [6]. Phân tích mô bệnh học cho thấy giai đoạn lành thương tiến triển với nhiều bó collagen tổ chức chặt chẽ [6].

Cũng trong năm 2020, một nhóm nghiên cứu đã kết hợp dịch mủ Jatropha multifida vào màng hydrogel iota carrageenan-poly(vinyl alcohol) (IC-PVA) [4]. Dịch mủ chứa flavonoid, saponin và alkaloid [4]. Thử nghiệm màng hydrogel cho thấy độ trương nở đạt 246,32%, tỷ lệ gel 16,75% và không gây kích ứng, đỏ da hay dị ứng trên chuột [4]. Màng hydrogel chứa dịch mủ giúp vết thương đóng miệng tới 98% sau 10 ngày, gia tăng đáng kể tốc độ phục hồi so với nhóm không điều trị [4].

Tuy nhiên, không phải mọi loài Jatropha đều mang lại hiệu quả vượt trội. Nghiên cứu năm 2006 trên 60 chuột Wistar với vết thương đường kính 2 cm ở lưng được chia làm hai nhóm (mỗi nhóm 30 chuột) đã đánh giá chiết xuất thô từ cây Jatropha gossypiifolia [8]. Đánh giá tại các ngày thứ 7, 14 và 21 ghi nhận phản ứng nguyên bào sợi và tái biểu mô hóa ở nhóm Jatropha tốt hơn vào ngày thứ 7, lượng collagen hóa nhiều hơn vào ngày thứ 7 và 14, không còn viêm mạn tính vào ngày thứ 21 [8]. Mặc dù vậy, ở đánh giá chung cuộc, nghiên cứu kết luận không có sự khác biệt đáng kể nào về mặt đại thể lẫn vi thể giữa vết thương dùng chiết xuất thô Jatropha gossypiifolia so với nhóm đối chứng không điều trị [8].

Khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến việc trị mụn ở người

Từ các dữ liệu trên, có thể thấy các bằng chứng khoa học hiện có tồn tại những khoảng trống rất lớn trước khi có thể áp dụng vào thực tế điều trị mụn nhọt ngoài da.

Thứ nhất, đối tượng thử nghiệm hoàn toàn là động vật (chuột cống trắng, chuột nhắt trắng) hoặc các dòng tế bào nuôi cấy trong ống nghiệm [2] [5] [3] [7] [6] [8] [4]. Cho đến nay, chưa có bất kỳ thử nghiệm lâm sàng nào được tiến hành trên bệnh nhân bị mụn nhọt ngoài da. Da người có cấu trúc sinh học, hệ vi sinh vật và cơ chế đáp ứng miễn dịch phức tạp hơn rất nhiều so với mô hình động vật gặm nhấm.

Thứ hai, dữ liệu trực tiếp trên loài dầu lai có củ (Jatropha podagrica) chỉ mới ở mức sàng lọc sơ bộ về khả năng kháng khuẩn [1]. Hầu hết các đặc tính làm lành vết thương ấn tượng đến từ các dạng bào chế tinh khiết của các loài khác như Jatropha curcas, Jatropha multifida hay Jatropha gaumeri [2] [7] [4]. Không thể tự ý ngoại suy kết quả của loài này sang loài khác trong cùng chi thực vật.

Thứ ba, các nghiên cứu đạt kết quả khả quan đều sử dụng dịch chiết đã qua xử lý chuẩn hóa, chiết xuất phân đoạn chọn lọc hoặc kết hợp trong các hệ mang hiện đại như màng hydrogel nhằm kiểm soát kích ứng và tăng độ ổn định [2] [7] [4]. Mủ tươi tự nhiên chứa hỗn hợp nhiều tạp chất chưa được tinh chế, hoàn toàn không tương đồng với các dạng bào chế trong nghiên cứu.

Những hiểu lầm tai hại khi tự ý đắp lá, bôi mủ cây

Hiểu lầm phổ biến nhất là quan niệm "cứ cây cỏ tự nhiên là an toàn". Nhiều người nghĩ rằng bôi mủ cây dầu lai có củ lên nốt mụn nhọt sẽ giúp tiêu sưng tức thì mà không gây tác dụng phụ. Thực tế, mủ của các loài thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) nói chung và chi Dầu lai nói riêng thường chứa các diterpenoid và độc tố thực vật có thể gây viêm da tiếp xúc nặng, phồng rộp và kích ứng niêm mạc.

Một sai lầm nguy hiểm khác là đắp bã lá tươi giã nát lên các nốt mụn đang sưng to hoặc đã vỡ mủ. Mụn nhọt là một tổn thương hở. Việc đắp các loại lá cây chưa qua khử trùng vô tình đưa thêm các tạp khuẩn, nấm mốc từ môi trường vào sâu trong ổ nang lông. Khi đó, tình trạng viêm nhiễm không những không thuyên giảm mà còn có nguy cơ lan rộng, dẫn đến viêm mô tế bào hoặc nhiễm trùng huyết rất nguy hiểm.

Thêm vào đó, việc dùng mủ cây chưa chuẩn hóa có thể gây bít tắc lỗ chân lông tại vùng da bị tổn thương, cản trở sự thoát dịch mủ tự nhiên và làm chậm quá trình biểu mô hóa lành thương.

Ai cần thận trọng và cách xử lý mụn nhọt an toàn

Hiện tại, chưa có dữ liệu nghiên cứu an toàn nào của cây dầu lai có củ trên phụ nữ mang thai, phụ nữ đang cho con bú, trẻ nhỏ và người có bệnh lý ngoài da mạn tính. Vì vậy, các nhóm đối tượng này tuyệt đối không được tự ý sử dụng mủ hay dịch chiết từ cây để bôi lên da dưới bất kỳ hình thức nào. Những người có cơ địa viêm da dị ứng, da nhạy cảm hoặc đang có vết thương hở sâu cũng cần tránh tiếp xúc với mủ cây.

Khi bị mụn nhọt ngoài da, người bệnh nên áp dụng các biện pháp chăm sóc y khoa tiêu chuẩn:

  • Vệ sinh sạch sẽ vùng da tổn thương bằng nước ấm hoặc dung dịch sát khuẩn dịu nhẹ.
  • Tránh sờ tay, cào gãi hoặc tự ý nặn mụn khi nốt mụn còn sưng cứng, chưa gom cồi.
  • Với các nốt mụn sưng to, đau nhiều, xuất hiện dấu hiệu lan rộng hoặc kèm theo sốt, cần đến cơ sở y tế để được bác sĩ chuyên khoa da liễu thăm khám, chỉ định thuốc kháng sinh hoặc can thiệp trích rạch dẫn lưu mủ vô khuẩn nếu cần thiết.
  • Không tự ý thu hái cây cỏ ven đường để đắp lên mặt hoặc vùng da tổn thương. Nếu muốn sử dụng bất kỳ bài thuốc hỗ trợ nào, hãy tham khảo ý kiến chuyên môn của bác sĩ.

Cây dầu lai có củ nói riêng và các loài chi Dầu lai nói chung chứa những hoạt chất sinh học tiềm năng cho việc kháng khuẩn và hỗ trợ liền vết thương trong tương lai. Dù vậy, những kết quả này mới dừng lại ở phòng thí nghiệm và trên động vật thực nghiệm. Người dân không nên mạo hiểm tự ý dùng mủ cây tươi để trị mụn nhọt nhằm tránh nguy cơ bội nhiễm và kích ứng da nghiêm trọng.