Nhiều người tìm kiếm nguồn vitamin C tự nhiên từ các loại quả vì tin rằng cơ thể hấp thu tốt hơn hẳn viên uống tổng hợp. Camu camu, loại quả nhiệt đới từ rừng Amazon, nổi lên như một hiện tượng nhờ danh hiệu nguồn vitamin C dồi dào bậc nhất tự nhiên.
Dù camu camu chứa hàm lượng vitamin C cực lớn và việc chế biến giúp bảo tồn tốt hoạt chất, các bằng chứng khoa học đối chứng về sinh khả dụng cho thấy vitamin C tổng hợp và vitamin C tự nhiên từ thực phẩm có mức độ hấp thu vào cơ thể tương đương nhau.
Nguồn vitamin C tự nhiên dồi dào từ Amazon
Camu camu (tên khoa học là Myrciaria dubia) là loại cây bụi mọc hoang dã chủ yếu tại lưu vực sông Amazon [1]. Loại quả này từ lâu đã thu hút sự chú ý của các nhà khoa học dinh dưỡng nhờ nồng độ dưỡng chất vượt trội [1, 4].
Dữ liệu phân tích thành phần thực phẩm cho thấy camu camu đứng đầu về lượng vitamin C trong số các loại trái cây [1]. Dựa trên 14 điểm dữ liệu phân tích, hàm lượng acid ascorbic trung bình đạt 2.300 mg trên 100 g phần ăn được, dao động trong khoảng từ 1.530 đến 4.840 mg trên 100 g [1]. Mức này cao gấp hàng chục lần so với nhiều loại trái cây quen thuộc như cam [1].
Ngoài acid ascorbic, dịch chiết của camu camu còn chứa nhiều hợp chất tự nhiên khác [1, 3]. Phân tích sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) chỉ ra rằng trong dịch chiết camu camu (hiệu suất chiết 19,96%), nồng độ acid ascorbic đạt 47,7 mg/g và anthocyanin cyanidin-3-glucoside (C3G) đạt 0,1 mg/g [2]. Bên cạnh đó, các hợp chất phenolic như acid ellagic và quercetin cũng được ghi nhận hiện diện trong cấu trúc quả [2].
Cơ chế hấp thu và khả năng giải phóng vi chất
Để vitamin C phát huy công dụng, dưỡng chất này phải thoát khỏi chất nền thực phẩm trong quá trình tiêu hóa và giữ được tính ổn định qua môi trường dịch vị dạ dày lẫn ruột non [3]. Khả năng giải phóng này gọi là độ giải phóng sinh học (bioaccessibility), tiền đề cho sinh khả dụng (bioavailability) khi vào máu [3].
Một nghiên cứu công bố năm 2024 đã đánh giá độ bền và khả năng giải phóng dưỡng chất của bột camu camu sản xuất bằng phương pháp sấy phun và sấy thăng hoa [3]. Kết quả thử nghiệm mô phỏng tiêu hóa qua giai đoạn dạ dày và ruột cho thấy tỷ lệ thu hồi các hợp chất có hoạt tính sinh học (gồm cyanidin-3-glucoside, delphinidin-3-glucoside, acid ascorbic và acid malic) trong bột camu camu đạt mức 60,8% [3]. Khi bột này được phối trộn vào nền đồ uống như nước nho trắng hay sữa chua, tỷ lệ thu hồi qua tiêu hóa đạt tới 90%, cao hơn rõ rệt so với nước ép quả nguyên bản [3].
Các công nghệ chế biến hiện đại khác cũng tác động trực tiếp đến khả năng giải phóng dưỡng chất của camu camu [4]. Nghiên cứu năm 2020 ứng dụng công nghệ huyết tương lạnh (cold plasma) ở các tần số kích thích khác nhau (200, 420, 583, 698 và 960 Hz) lên nước ép camu camu [4]. Kết quả ghi nhận nồng độ acid ascorbic tăng lên khi dùng tần số kích thích cao hơn, từ đó làm gia tăng sinh khả dụng sau quá trình tiêu hóa mô phỏng [4]. Tuy nhiên, tần số kích thích cao lại làm phân hủy đáng kể các anthocyanin cũng như làm giảm hoạt tính của enzyme peroxidase và polyphenol oxidase nội sinh [4].
Bằng chứng hấp thu: Tự nhiên có vượt trội nhân tạo?
Nhiều giả thuyết cho rằng các flavonoid hoặc dưỡng chất đi kèm trong hoa quả tự nhiên như camu camu sẽ thúc đẩy hấp thu vitamin C vào máu tốt hơn acid ascorbic nhân tạo. Tuy nhiên, các thử nghiệm lâm sàng đối chứng trực tiếp trên người lại cho thấy bức tranh hoàn toàn khác [6, 7].
Một nghiên cứu lâm sàng công bố năm 1993 đã tiến hành so sánh sinh khả dụng tương đối của acid ascorbic từ nhiều nguồn khác nhau trên 68 nam giới không hút thuốc [5]. Các tình nguyện viên trải qua hai chu kỳ rút cạn và bù đắp vitamin C kéo dài 8 tuần mỗi chu kỳ [5]. Ở giai đoạn bù đắp, người tham gia được phân ngẫu nhiên để nhận 108 mg vitamin C mỗi ngày dưới dạng viên nén tổng hợp (có hoặc không có sắt), múi cam tươi, nước cam tươi, bông cải xanh luộc chín hoặc bông cải xanh ăn sống [5].
Dựa trên độ dốc hồi quy tuyến tính của nồng độ acid ascorbic trong huyết tương theo thời gian, các nhà nghiên cứu nhận thấy mức độ hấp thu ở nhóm dùng viên tổng hợp, nước cam, múi cam và bông cải xanh nấu chín là tương đương nhau [6, 7]. Riêng nhóm dùng bông cải xanh sống có mức đáp ứng huyết tương thấp hơn 20% (p < 0,01) [6, 7]. Kết quả từ thử nghiệm lâm sàng này khẳng định rằng acid ascorbic dạng tổng hợp và acid ascorbic tự nhiên từ trái cây hay rau củ có sinh khả dụng ngang nhau trong cơ thể người [6, 7]. Hiện tượng giảm hấp thu nhẹ ở bông cải xanh sống cũng được nhận định là không có ý nghĩa thực tiễn đối với chế độ ăn hỗn hợp thông thường [6, 7].
Tương tác giữa vitamin C và các vi chất khác
Vitamin C không hoạt động đơn độc mà thường xuyên tương tác với các khoáng chất trong đường tiêu hóa [5, 8]. Việc bổ sung acid ascorbic liều cao có thể tạo ra các phản ứng khác nhau tùy thuộc vào loại khoáng chất đi kèm và nền thực phẩm [5, 8].
Nghiên cứu lâm sàng năm 1985 kiểm tra tác động của việc bổ sung acid ascorbic lên sinh khả dụng của selen ở người [6]. Thử nghiệm được thực hiện trên 3 nhóm nữ sinh viên đại học trong vòng 4 tuần với các chế độ: 50 microgam natri selenat đơn thuần, 50 microgam natri selenat kết hợp 200 mg acid ascorbic, hoặc chỉ dùng 200 mg acid ascorbic 3 lần mỗi ngày trong bữa ăn [6].
Nồng độ selen trong huyết tương tăng lên có ý nghĩa thống kê ở cả 3 nhóm (p < 0,01), trong đó mức tăng cao nhất thuộc về nhóm phối hợp cả selen và acid ascorbic, còn mức tăng thấp nhất ở nhóm chỉ uống acid ascorbic [6]. Hoạt tính enzyme glutathione peroxidase (GSH-Px) trong huyết tương cũng biến thiên tương ứng theo nồng độ selen (p < 0,05) [6]. Điều này cho thấy acid ascorbic bổ sung có thể hỗ trợ sinh khả dụng của selen tự nhiên có trong thực phẩm, nhưng lại không làm thay đổi sự hấp thu của muối natri selenat bổ sung ngoài [6].
Ngược lại, khả năng hỗ trợ hấp thu vi chất của vitamin C đôi khi bị triệt tiêu bởi các chất ức chế trong thực phẩm [7]. Một nghiên cứu can thiệp năm 2004 trên 31 trẻ em từ 8 đến 18 tháng tuổi tại Bangladesh đã đánh giá việc dùng sữa mẹ (chứa 32-90 mg acid ascorbic/kg) như một nguồn vitamin C để cải thiện hấp thu sắt từ món ăn dặm khichuri (nấu từ gạo và đậu lăng) [7]. Lượng sữa mẹ trung bình trẻ bú là 274 g (cung cấp khoảng 14 mg acid ascorbic), đạt tỷ lệ mol giữa acid ascorbic và sắt là 2,3 [7].
Tuy nhiên, sinh khả dụng trung bình của sắt từ món ăn dặm khi dùng cùng sữa mẹ (6,2%) hoàn toàn không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với khi chỉ uống nước lọc (6,5%, p = 0,76) [7]. Các nhà khoa học kết luận lượng vitamin C bổ sung không đủ để vượt qua tác dụng ức chế hấp thu mạnh mẽ của 30 mg acid phytic có trong mỗi khẩu phần ăn dặm [7].
Hiểu lầm thường gặp về vitamin C tự nhiên
Sai lầm phổ biến nhất là quan niệm cho rằng vitamin C chiết xuất tự nhiên từ các loại "siêu quả" như camu camu có cấu trúc phân tử ưu việt hơn, giúp nồng độ trong máu tăng vọt so với viên sủi hay viên nén tổng hợp. Về mặt hóa học, acid ascorbic dù được tổng hợp trong phòng thí nghiệm hay chiết xuất từ camu camu đều có cấu trúc phân tử hoàn toàn đồng nhất. Các nghiên cứu lâm sàng đã chứng minh sinh khả dụng của hai dạng này ở người là tương đương [6, 7].
Một hiểu lầm khác là dùng càng nhiều vitamin C nồng độ cao thì cơ thể càng hấp thu được toàn bộ. Khi nồng độ vitamin C vượt ngưỡng bão hòa của các thụ thể vận chuyển ở niêm mạc ruột, lượng dư thừa sẽ không được hấp thu mà bị đào thải qua nước tiểu hoặc gây kích ứng đường tiêu hóa. Việc tiêu thụ các loại bột quả siêu đậm đặc không đồng nghĩa với việc cơ thể giữ lại được toàn bộ lượng dưỡng chất ghi trên nhãn.
Bên cạnh đó, nhiều người tin rằng các thực phẩm tự nhiên giàu vitamin C luôn giúp hấp thu tối đa mọi khoáng chất đi kèm. Thực tế cho thấy các hợp chất kháng dinh dưỡng như acid phytic có thể áp đảo và ngăn chặn hoàn toàn tác động hỗ trợ của vitamin C đối với sự hấp thu sắt [7].
Những đối tượng cần thận trọng khi dùng
Với hàm lượng acid ascorbic cực kỳ cô đặc, dao động từ 1.530 đến 4.840 mg trên 100 g thịt quả, camu camu đòi hỏi sự cẩn trọng nhất định khi sử dụng [1]. Người có tiền sử viêm loét dạ dày, trào ngược acid nên hạn chế dùng camu camu nguyên chất hoặc nước ép nồng độ cao vào lúc đói để tránh kích ứng niêm mạc.
Người có cơ địa hoặc tiền sử sỏi thận (đặc biệt là sỏi calci oxalat) cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng các sản phẩm bổ sung từ camu camu dài ngày. Lượng vitamin C dư thừa khi chuyển hóa có thể làm tăng bài tiết oxalat qua đường tiết niệu.
Đối với các chế phẩm chiết xuất đậm đặc từ camu camu, nồng độ sử dụng cũng cần lưu tâm [2]. Dữ liệu thử nghiệm độc tính tế bào bằng phương pháp MTT trên dòng tế bào RBL-2H3 cho thấy: ở nồng độ chiết xuất 50 microg/mL, tỷ lệ tế bào sống sót duy trì ở mức 90,2%, nhưng khi nâng nồng độ lên 100 microg/mL, tỷ lệ sống sót của tế bào giảm mạnh xuống còn 42,8% [2]. Do đó, người dùng không nên lạm dụng các loại chiết xuất cô đặc vượt quá hướng dẫn của nhà sản xuất hoặc chỉ định y khoa.
Gợi ý sử dụng camu camu trong chế độ ăn
Camu camu thường được chế biến dưới dạng quả tươi, nước ép, mứt, kem hoặc làm thành bột sấy bảo quản [1, 4]. Để bảo toàn tối đa các chất chống oxy hóa nhạy cảm với nhiệt độ, người tiêu dùng nên ưu tiên các sản phẩm bột chế biến bằng phương pháp sấy phun kết hợp chất mang bảo vệ hoặc sấy thăng hoa [3]. Khi bảo quản bột tại nhà, cần đậy kín hộp và giữ ở nơi khô ráo vì độ ẩm tương đối của môi trường là yếu tố then chốt ảnh hưởng đến độ bền của các hoạt chất [3].
Trong ẩm thực hàng ngày, việc phối trộn bột camu camu vào các nền thực phẩm như sữa chua hoặc nước ép trái cây khác có thể giúp tăng tỷ lệ thu hồi dưỡng chất sau tiêu hóa lên đến 90% [3]. Cách làm này vừa giúp trung hòa vị chua gắt tự nhiên của quả, vừa tạo môi trường dẫn truyền ổn định cho vitamin C và anthocyanin qua đường ruột [3]. Thời điểm sử dụng phù hợp nhất là dùng trong hoặc ngay sau bữa ăn để hạn chế xót ruột và hỗ trợ hấp thu các chất dinh dưỡng tự nhiên có trong thực phẩm [6].
Camu camu là nguồn cung cấp vitamin C và chất chống oxy hóa tự nhiên vô cùng phong phú từ thiên nhiên [3, 4]. Tuy nhiên, về mặt hấp thu thực tế, acid ascorbic từ thực phẩm tự nhiên hay dạng tổng hợp đều mang lại giá trị sinh học tương đương cho cơ thể [6, 7]. Người tiêu dùng nên xây dựng chế độ dinh dưỡng cân bằng, lựa chọn nguồn bổ sung phù hợp với điều kiện kinh tế và tình trạng sức khỏe cá nhân, thay vì kỳ vọng vào tác dụng thần kỳ của các sản phẩm đắt đỏ.





