Nhiều người theo phương pháp thực dưỡng truyền tai nhau nguyên tắc hạn chế uống nước, chỉ uống khi thật khát hoặc chỉ nhấp từng ngụm nhỏ để "tránh làm thận làm việc quá tải". Quan niệm cho rằng uống ít nước giúp thận được nghỉ ngơi liệu có đúng dưới góc nhìn khoa học?

Câu trả lời ngắn gọn: Việc tự ý cắt giảm nước sinh hoạt dựa trên suy diễn từ các chế độ bệnh lý là một sai lầm nguy hiểm đối với người khỏe mạnh. Thận cần lưu lượng tuần hoàn ổn định để duy trì áp lực lọc, loại bỏ chất cặn bã và bài tiết các ion hòa tan qua nước tiểu.

Hiểu đúng về cơ chế lọc của thận và nhu cầu nước

Thận người lọc hàng trăm lít máu mỗi ngày để tạo ra nước tiểu, giúp cân bằng điện giải và bài xuất chất thải chuyển hóa. Khi cơ thể thiếu nước nghiêm trọng, thể tích dịch ngoại bào sụt giảm, dẫn tới giảm tưới máu thận.

Tuy nhiên, trong các phác đồ điều trị lâm sàng, việc truyền quá nhiều dịch cũng không hề đem lại lợi ích bảo vệ thận. Một tổng quan y khoa công bố năm 2010 chỉ ra rằng mối liên hệ giữa việc truyền dịch và sự gia tăng cung cấp oxy cho thận là rất yếu, trong khi các lợi ích từ việc truyền dịch thường chỉ tồn tại trong thời gian ngắn [1]. Nghiên cứu này cũng nhấn mạnh bằng chứng liên kết giữa tình trạng quá tải dịch và các kết cục bất lợi ngày càng rõ ràng, còn việc dùng dịch hạn chế hơn dường như không làm tăng nguy cơ tổn thương thận cấp có ý nghĩa lâm sàng trong nhiều tình huống hồi sức [1]. Mặc dù vậy, điều này áp dụng trong bối cảnh chống quá tải dịch ở bệnh nhân nặng tại phòng hồi sức cấp cứu, hoàn toàn không đồng nghĩa với việc người bình thường nên nhịn uống nước.

Nghiên cứu lâm sàng về giới hạn dịch: Áp dụng cho ai?

Những người ủng hộ việc kiêng nước trong thực dưỡng thường viện dẫn các chỉ định y khoa về việc "bớt uống nước để giảm tải cho thận". Cần nhìn nhận rằng các can thiệp này chỉ áp dụng trên nhóm bệnh nhân đặc thù mất khả năng tự đào thải dịch.

Một tổng quan năm 2015 về suy tim cho thấy giới hạn muối và nước trong quản lý thường quy suy tim thường dựa trên ý kiến chuyên gia hơn là bằng chứng thực chứng [2]. Biện pháp hạn chế dịch (1000 mL/ngày) ở bệnh nhân suy tim có hạ natri máu (natri huyết thanh dưới 137 mmol/dL) giúp cải thiện chất lượng cuộc sống sau xuất viện 60 ngày [2]. Dù vậy, một thử nghiệm ngẫu nhiên khác lại không thấy lợi ích rõ ràng từ việc hạn chế muối và nước ở bệnh nhân suy tim có phân suất tống máu bảo tồn, và bệnh nhân nhập viện do suy tim tăng nặng cũng không hưởng lợi từ việc hạn chế dịch và natri quá mức [2]. Ở người cao tuổi, việc hạn chế natri nghiêm ngặt thậm chí có thể gây hại do giảm thể tích tuần hoàn và tăng kích hoạt thần kinh thể dịch [2].

Đối với bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối, việc kiểm soát nước đưa vào cơ thể mang tính sống còn. Một nghiên cứu can thiệp giáo dục năm 2019 áp dụng thiết kế đánh giá trước - sau trên 17 bệnh nhân chạy thận nhân tạo định kỳ cho thấy việc can thiệp giáo dục giúp người bệnh tăng hiểu biết và cải thiện mức độ tuân thủ hạn chế dịch nghiêm ngặt [3].

Ở bệnh nhân thẩm phân phúc mạc, duy trì cân bằng thể tích là yếu tố quan trọng hàng đầu do bệnh tim mạch là một trong những nguyên nhân tử vong chính ở nhóm bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn 5 [4]. Một bài tổng quan năm 2008 chỉ ra rằng tình trạng quá tải thể tích có thể đẩy nhanh tốc độ suy giảm chức năng thận tồn dư, và duy trì chức năng thận tồn dư là chìa khóa để giữ cân bằng dịch ổn định thay vì dung nạp tình trạng thừa dịch [4].

Trong bối cảnh ngoại khoa, một nghiên cứu theo dõi từ thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên công bố năm 2017 trên 166 bệnh nhân phẫu thuật cắt bàng quang triệt căn chia làm hai nhóm: nhóm can thiệp (83 người) dùng dịch truyền tinh thể hạn chế 1 ml/kg/giờ kết hợp norepinephrine liên tục (sau cắt bàng quang là 3 ml/kg/giờ), và nhóm chứng (83 người) dùng dịch truyền chuẩn 6 ml/kg/giờ [5]. Kết quả cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa về chức năng thận sau mổ giữa hai nhóm, chứng minh truyền dịch hạn chế phối hợp thuốc co mạch trong phẫu thuật không làm suy giảm chức năng thận trung hạn so với truyền dịch tự do [5].

Tất cả các dữ liệu trên chứng minh việc siết chặt lượng nước chỉ là liệu pháp y khoa bắt buộc khi cơ thể đã suy giảm chức năng bơm máu (suy tim) hoặc mất hoàn toàn chức năng bài tiết (suy thận giai đoạn cuối, lọc máu), không phải là phương pháp dưỡng sinh cho người khỏe mạnh.

Nhầm lẫn giữa tiết chế năng lượng và nhịn uống nước

Nhiều tài liệu thực dưỡng cổ vũ nhịn ăn, nhịn uống vì tin rằng sẽ "thanh lọc" và giúp thận trẻ hóa. Khoa học ghi nhận việc giảm lượng calo nạp vào cơ thể có thể đem lại một số thay đổi tích cực trên thận, nhưng điều này hoàn toàn tách biệt với việc nhịn nước.

Nghiên cứu thực nghiệm năm 1999 trên chuột đực non Fischer 344 x Brown-Norway F1 so sánh nhóm ăn tự do với nhóm hạn chế thức ăn (chỉ ăn 60% mức tự do) trong 6 tuần cho thấy nhóm ăn tự do có phân suất bài xuất Na+, K+, Cl- cao hơn nhóm hạn chế ăn (P < 0.001) [6]. Hoạt tính enzym Na,K-ATPase ở thận nhóm ăn tự do cao hơn 100% so với nhóm hạn chế ăn (P < 0.001), phản ánh thận phải làm việc nhiều hơn [6]. Việc hạn chế thức ăn cũng làm giảm khoảng 50% nồng độ các phospholipid ở màng bờ bàn chải vỏ thận và hạ thấp cholesterol màng thận, giúp giảm tải công việc bài tiết proton của thận [6].

Trên người, một nghiên cứu năm 2014 đánh giá chức năng thận trên 14 bệnh nhân đái tháo đường típ 2 kèm béo phì bệnh lý và bệnh thận mạn giai đoạn 2 trước và sau 7 ngày áp dụng chế độ ăn rất ít calo (VLCD) [7]. Sau chế độ ăn giới hạn năng lượng, mức lọc cầu thận (GFR) đã tăng từ 72,6 ± 3,8 lên 86,9 ± 6,1 mL/phút/1,73 m2 diện tích bề mặt cơ thể (P = 0,026) [7].

Như vậy, các nghiên cứu trên chỉ ghi nhận lợi ích từ việc kiểm soát calo và thức ăn ở động vật thí nghiệm hoặc người béo phì có rối loạn chuyển hóa [6], [7]. Hoàn toàn không có bằng chứng nào cho thấy việc cắt giảm lượng nước uống hàng ngày giúp cải thiện chức năng thận.

Hệ lụy từ việc áp dụng thực dưỡng cực đoan

Thực dưỡng nghiêm ngặt không chỉ tạo áp lực bài tiết cho thận khi nước tiểu bị cô đặc mà còn dẫn tới nguy cơ thiếu hụt vi chất nghiêm trọng, ảnh hưởng tới nhiều hệ cơ quan.

Một nghiên cứu công bố năm 2000 theo dõi 48 thanh thiếu niên (10-16 tuổi) từng ăn chế độ thực dưỡng (kiểu thuần chay) đến 6 tuổi, so sánh với 24 đối tượng ăn tạp từ nhỏ [8]. Có tới 31 đối tượng trong nhóm từng ăn thực dưỡng bị thiếu hụt cobalamin (vitamin B12) căn cứ theo nồng độ axit methylmalonic huyết tương [8]. Nhóm chứng đạt kết quả kiểm tra tâm lý tốt hơn so với nhóm từng ăn thực dưỡng, và thiếu hụt cobalamin có mối liên hệ ý nghĩa với suy giảm điểm kiểm tra trí thông minh linh hoạt (hệ số tương quan -0,28; 95% CI: -0,48 đến -0,08; P = 0,01) [8].

Việc vừa kiêng khem dinh dưỡng vừa hạn chế nước uống khiến cơ thể suy kiệt, làm tăng nguy cơ tổn thương thần kinh và giảm khả năng chuyển hóa chung của toàn bộ cơ thể.

Ai nên thận trọng với việc thay đổi lượng dịch?

Việc điều chỉnh lượng nước đưa vào cơ thể không thể áp dụng tùy tiện theo các lời truyền miệng mà cần căn cứ vào tình trạng bệnh lý:

  • Người khỏe mạnh bình thường tuyệt đối không áp dụng thói quen kiêng nước của thực dưỡng. Việc uống quá ít nước khiến nước tiểu cô đặc, giảm lưu lượng lọc qua cầu thận và tạo điều kiện thuận lợi cho cặn khoáng kết tinh.
  • Bệnh nhân suy tim, suy thận mạn tiến triển, đang chạy thận nhân tạo hoặc thẩm phân phúc mạc cần tuân thủ nghiêm ngặt mức dịch do bác sĩ chỉ định [2], [3], [4]. Nhóm này không được tự ý tăng hay giảm lượng nước uống ngoài hướng dẫn chuyên khoa.
  • Người cao tuổi cần đặc biệt cẩn trọng vì việc giảm thể tích tuần hoàn do thiếu dịch hoặc hạn chế muối quá mức có thể dẫn tới tụt huyết áp, té ngã nguy hiểm [2].

Lời khuyên thực hành cân bằng cho người dân

Để bảo vệ chức năng thận, độc giả không nên theo đuổi các phương pháp kiêng nước phản khoa học. Một lối sống lành mạnh cần sự lắng nghe cơ thể có chừng mực và hiểu biết:

  • Uống đủ nước trải đều trong ngày, không đợi đến khi quá khát mới uống. Màu nước tiểu màu vàng rơm nhạt là dấu hiệu cho thấy cơ thể nhận đủ nước.
  • Trong điều kiện sinh hoạt bình thường, duy trì lượng chất lỏng đưa vào cơ thể qua nước lọc, nước canh và hoa quả tươi. Tăng lượng nước khi vận động thể lực ra nhiều mồ hôi hoặc trong thời tiết nắng nóng.
  • Hạn chế ăn quá mặn để tránh gánh nặng điều hòa áp suất thẩm thấu cho hệ tuần hoàn và thận. Khi có bệnh lý tim mạch, đái tháo đường hay bệnh thận, luôn tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa trước khi áp dụng bất kỳ hình thức kiêng khem nào.

Thận cần một môi trường dịch thể cân bằng để thực hiện chức năng thanh lọc máu liên tục. Hạn chế nước mù quáng theo các trào lưu thực dưỡng không giúp thận "nghỉ ngơi" mà chỉ làm tăng nguy cơ suy giảm tuần hoàn và tổn hại chức năng thận lâu dài.