Nhiều người có thói quen hãm hạt muồng (thảo quyết minh) uống hàng ngày để thanh nhiệt, sáng mắt hoặc nhuận tràng. Tuy nhiên, không ít người gặp phải tình trạng đau bụng quặn thắt, tiêu chảy xối xả ngay sau khi dùng loại hạt này mà không rõ nguyên nhân. Vấn đề cốt lõi thường nằm ở việc sử dụng hạt sống hay hạt đã qua sao vàng chế biến đúng cách.
Hạt muồng sống chứa hàm lượng lớn các hợp chất anthraquinone và dẫn xuất glycoside tự do, gây kích thích nhu động ruột rất mạnh dẫn đến tiêu chảy [1, 3]. Quá trình tác động nhiệt qua việc sao vàng giúp phân hủy, giảm đáng kể các anthraquinone này, từ đó làm dịu hoạt tính xổ, biến dược liệu thành thức uống an toàn và êm dịu hơn cho hệ tiêu hóa [3, 5].
Hạt sống và hạt sao vàng: Khác biệt ở nhiệt độ
Thảo quyết minh (tên khoa học là Cassia tora L. hoặc Cassia obtusifolia L., thuộc họ Đậu Fabaceae) là vị thuốc dân gian quen thuộc [1, 6]. Trong hạt sống chưa qua chế biến, thành phần hoạt chất chính bao gồm các dẫn xuất anthraquinone, anthraquinone glycoside và naphthalene [1]. Khi đi vào đường tiêu hóa, các hợp chất này trực tiếp thúc đẩy co bóp ruột non và ruột già, gây tác dụng nhuận tràng cực mạnh hoặc tiêu chảy mất kiểm soát nếu dùng dạng sống.
Khi hạt muồng được đưa lên chảo sao vàng dưới tác động của nhiệt độ, cấu trúc hóa học của các phân tử anthraquinone bắt đầu biến đổi [3, 5]. Nhiệt độ cao làm giảm dần hàm lượng các dẫn xuất anthraquinone tự do lẫn dạng glycoside [3, 5]. Nhờ sự suy giảm này, dược tính của hạt chuyển từ xổ mạnh sang nhuận tràng nhẹ nhàng, đồng thời phát sinh hương thơm đặc trưng thích hợp làm trà uống thường nhật [1, 6].
Nhiệt độ tác động ra sao đến các hoạt chất?
Một nghiên cứu công bố năm 1999 đã khảo sát chiết xuất nước của hạt thảo quyết minh (Cassia tora L.) dưới các mức nhiệt sao khác nhau: hạt sống (chưa sao), sao ở 150 độ C, 200 độ C và 250 độ C trên mô hình tổn thương oxy hóa phân tử sinh học trong ống nghiệm [2]. Kết quả cho thấy chiết xuất hạt chưa sao thể hiện hoạt tính tiền oxy hóa (prooxidant) thúc đẩy tổn thương oxy hóa phân tử 2'-deoxyguanosine (2'-dG) mạnh nhất [2]. Khả năng này giảm dần theo thứ tự: chưa sao > sao ở 150 độ C > sao ở 200 độ C > sao ở 250 độ C [2]. Nhóm nghiên cứu chỉ ra rằng sự suy giảm hoạt tính này liên quan mật thiết đến việc giảm hàm lượng anthraquinone glycoside hoặc sự hình thành các sản phẩm phản ứng Maillard chống oxy hóa sau khi sao nhiệt [2].
Tiếp tục làm rõ tác động của quá trình sao, một nghiên cứu công bố năm 2004 đã đánh giá dịch chiết nước hạt thảo quyết minh chưa sao và hạt sao ở 150 độ C, 250 độ C [3]. Bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC), nhóm nghiên cứu đã định lượng 3 anthraquinone chính gồm chrysophanol, emodin và rhein [3]. Kết quả xác nhận hàm lượng các anthraquinone này giảm rõ rệt khi nhiệt độ sao tăng lên [3]. Các hợp chất này trong hạt sống có khả năng bẻ gãy chuỗi DNA nhẹ trong điều kiện in vitro nhất định, nhưng cũng đồng thời là các chất kháng đột biến [3, 5]. Việc giảm nồng độ anthraquinone qua quá trình sao chính là lời giải khoa học cho việc hạt sao vàng không còn gây kích thích ruột dữ dội như hạt sống [3, 5].
Cảnh báo độc tính gan và thận ít ai ngờ
Nhiều người lầm tưởng thảo dược tự nhiên thì uống bao nhiêu cũng vô hại, nhưng các nghiên cứu hiện đại đã chỉ ra hạt muồng tiềm ẩn nguy cơ độc tính nếu lạm dụng [1, 6].
Một nghiên cứu công bố năm 2021 đã kết hợp mô hình dự đoán cấu trúc vi tính (in silico) và thử nghiệm nuôi cấy đồng thời tế bào gan - thận (in vitro) để đánh giá độc tính của 26 hợp chất phân lập từ hạt thảo quyết minh [4]. Kết quả dự đoán có 6 hợp chất có nguy cơ gây độc cho tế bào gan và 10 hợp chất gây độc cho tế bào thận [4]. Đáng chú ý, các anthraquinone và anthraquinone-glucoside cụ thể được xác định chính là những độc tố tiềm tàng [4]. Các nhóm thế hóa học như -OH và -OCH3 tại các vị trí R1, R2, R3 và R7 trên khung phân tử đóng vai trò quyết định mức độ gây độc tế bào của chúng [4].
Mối lo ngại về thận tiếp tục được ghi nhận trong nghiên cứu độc tính mãn tính công bố năm 2017 trên chuột cống trắng dòng Sprague-Dawley [5]. Chuột được cho uống bột hạt thảo quyết minh đông khô liên tục 26 tuần với các liều 0,5; 2,2 và 10,0 g/kg thể trọng/ngày [5]. Kết quả ghi nhận ở nhóm chuột đực dùng liều cao (2,2 và 10,0 g/kg), trọng lượng thận tương đối tăng đáng kể so với nhóm chứng sau 26 tuần [5]. Đặc biệt, ở liều 10,0 g/kg/ngày, xuất hiện hiện tượng lắng đọng sắc tố trong tế bào biểu mô ống lượn gần và teo hoặc tái tạo ống thận [5]. Những tổn thương vi thể ở thận này không thể hồi phục hoàn toàn ngay cả sau thời gian ngừng thuốc 4 tuần [5]. Thận được xác định là cơ quan chịu độc tính chính khi dùng liều cao kéo dài [5].
Dù vậy, mức độ an toàn còn phụ thuộc vào dạng chiết xuất. Một nghiên cứu độc tính bán trường diễn công bố năm 2019 cho chuột uống chiết xuất cồn của hạt thảo quyết minh liên tục 13 tuần ở các liều 0, 500, 1000 và 2000 mg/kg/ngày [6]. Kết quả không ghi nhận bất kỳ tác dụng bất lợi nào liên quan đến điều trị về cân nặng, xét nghiệm máu, men gan hay bệnh lý mô học ở mọi liều thử nghiệm, xác định mức liều không gây tác dụng phụ quan sát được (NOAEL) là trên 2000 mg/kg/ngày [6].
Lợi ích cho mắt và tế bào
Bên cạnh nguy cơ độc tính khi dùng sai liều, các hoạt chất trong hạt thảo quyết minh đã được chứng minh có nhiều giá trị sinh học quý giá [1, 2].
Một nghiên cứu công bố năm 2023 trên tế bào biểu mô sắc tố võng mạc người (RPE) tải chất A2E bị kích thích bởi ánh sáng xanh nhân tạo đã cho thấy tiềm năng to lớn của dược liệu này [1]. Hợp chất chrysophanol được phân lập từ hạt Cassia tora cùng dịch chiết toàn phần đã ức chế đáng kể cái chết rụng tế bào (apoptosis) và giảm phản ứng căng thẳng oxy hóa [1]. Chrysophanol làm giảm biểu hiện mRNA của các gen tham gia vào con đường chết tế bào, mở ra hướng ứng dụng phòng ngừa các bệnh thoái hóa hoàng điểm liên quan đến tuổi tác do ánh sáng xanh gây ra [1].
Ngoài ra, hạt thảo quyết minh cũng được ghi nhận có các đặc tính dược lý khác trong y học cổ truyền và nghiên cứu hiện đại như điều hòa lipid máu, hạ huyết áp, bảo vệ tế bào thần kinh và kháng khuẩn [1, 6].
Những hiểu lầm tai hại khi dùng hạt muồng
Hiểu lầm phổ biến nhất là quan niệm "hạt sống mới giữ nguyên chất, sao lên sẽ mất tác dụng". Như các bằng chứng khoa học đã chỉ ra, việc giữ nguyên hạt sống đồng nghĩa với việc giữ lại toàn bộ lượng anthraquinone và anthraquinone glycoside liều cao [3, 5]. Điều này khiến người uống đối mặt với cơn đau quặn bụng, rối loạn điện giải và tiêu chảy cấp tính.
Một sai lầm nghiêm trọng khác là coi trà hạt muồng như một loại nước lọc uống thay nước cả ngày quanh năm suốt tháng để "giải độc gan, mát gan". Hạt muồng thực tế được dùng trị mỡ máu và bảo vệ gan trong y học cổ truyền Trung Quốc, nhưng đã có báo cáo thực tế về trường hợp ngộ độc gan do chiết xuất hạt này [4]. Uống trà hạt muồng quá đặc và liên tục có thể đưa vào cơ thể lượng anthraquinone tích tụ, gây lắng đọng sắc tố ống thận và tổn hại chức năng thận khó hồi phục [1, 6].
Ai nên thận trọng khi sử dụng?
Dựa trên các nghiên cứu về độc tính trên tế bào và mô hình động vật, những nhóm đối tượng sau cần đặc biệt cẩn trọng hoặc tránh dùng hạt muồng:
- Người có tiền sử bệnh thận, suy giảm chức năng thận: Do nghiên cứu 26 tuần trên chuột chỉ ra thận là cơ quan đích bị nhiễm độc, gây teo ống thận ở liều cao [5].
- Người có bệnh lý về gan: Các anthraquinone và anthraquinone-glucoside trong hạt có khả năng gây độc trực tiếp cho tế bào gan trong các thử nghiệm in vitro [4].
- Người đang bị tiêu chảy, tỳ vị hư hàn, phân lỏng: Hoạt tính nhuận tràng của các dẫn xuất anthraquinone sẽ khiến tình trạng mất nước và tiêu chảy trở nên trầm trọng hơn [1, 3].
- Phụ nữ mang thai, phụ nữ cho con bú và trẻ nhỏ: Hiện chưa có dữ liệu an toàn đầy đủ trên các nhóm đối tượng này từ các trích đoạn nghiên cứu thực nghiệm hiện có; các dữ liệu an toàn mới chỉ thực hiện trên tế bào và chuột cống trắng [1, 6, 8]. Do đó, những nhóm nhạy cảm này tuyệt đối không tự ý sử dụng nếu không có chỉ định từ bác sĩ.
Cách áp dụng thực tế an toàn
Để tận dụng lợi ích thanh nhiệt, hỗ trợ mắt và nhuận tràng mà không gặp tác dụng phụ nguy hiểm, bạn nên tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Luôn sao vàng trước khi dùng: Tuyệt đối không dùng hạt sống. Quá trình sao ở nhiệt độ cao (từ 150 đến 250 độ C) giúp bẻ gãy bớt các anthraquinone kích ứng ruột dữ dội, chuyển đổi thành dạng êm dịu hơn [3, 5]. Sao đến khi hạt có mùi thơm ngậy, vỏ chuyển màu nâu sẫm đều.
- Dùng lượng vừa phải: Vì trích đoạn nghiên cứu không nêu liều lượng tính bằng gram cụ thể cho người bình thường uống hàng ngày, bạn chỉ nên pha hãm lượng nhỏ vừa phải, nước có màu vàng nhạt hoặc nâu sáng hổ phách, không hãm nước đen đặc.
- Dùng theo đợt ngắn: Tránh thói quen uống liên tục nhiều tháng liền nhằm hạn chế nguy cơ tích tụ độc tính lên tế bào gan và thận [1, 6]. Khi cần điều trị chứng táo bón hoặc mờ mắt, nên tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa hoặc chuyên gia dinh dưỡng để được kê đơn phối ngũ vị thuốc an toàn.
Hạt muồng là một vị thuốc tốt cho mắt và hỗ trợ điều hòa lipid máu, nhưng ranh giới giữa dược tính và độc tính rất mong manh [1, 2]. Việc hiểu rõ tác động của nhiệt độ sao vàng giúp loại bỏ nguy cơ tiêu chảy dữ dội, đồng thời việc dùng chừng mực sẽ bảo vệ lá gan và quả thận của bạn khỏi những tổn thương lâu dài [1, 6].


