Cây hoa ngâu từ lâu đã quen thuộc trong vườn nhà người Việt, thường được dùng ướp trà hoặc làm cảnh nhờ hương thơm thanh khiết. Tuy nhiên, nhiều người đi rừng hoặc tìm mua thảo dược thường nghe nhắc đến cái tên ngâu rừng và băn khoăn liệu hai loại này có phải là một, dược tính và độc tính ra sao. Việc nhầm lẫn giữa cây cảnh trồng thuần và cây mọc hoang dã có thể dẫn đến những rủi ro sức khỏe không đáng có.

Thực tế, chi Ngâu có số lượng loài vô cùng phong phú và phức tạp trong tự nhiên [1]. Hiện tại, các nghiên cứu hóa thực vật và hoạt tính sinh học tập trung phần lớn vào cây hoa ngâu quen thuộc (tên khoa học là Aglaia odorata), trong khi các dữ liệu nghiên cứu chuẩn xác dành riêng cho loài ngâu rừng (Aglaia pleuropteris) vẫn còn rất hạn chế [1]. Do đó, người dân tuyệt đối không nên tự ý thu hái ngâu rừng để sử dụng thay thế ngâu hoa ta làm thuốc hay pha trà thưởng thức.

Chi Ngâu trong tự nhiên và sự nhầm lẫn phổ biến

Chi Ngâu (Aglaia) thuộc họ Xoan (Meliaceae), là một trong những chi lớn nhất của họ này với khoảng 120 loài khác nhau [1]. Các loài thuộc chi này phân bố chủ yếu tại các khu rừng mưa nhiệt đới của khu vực Ấn Độ - Úc, trải dài từ Ấn Độ, Sri Lanka qua Polynesia đến Micronesia [1]. Sự đa dạng loài quá lớn khiến việc nhận diện chính xác bằng mắt thường đối với người không có chuyên môn trở nên vô cùng khó khăn [1].

Trong đời sống, ngâu hoa ta trồng cảnh thường là cây bụi hoặc thân gỗ nhỏ, cành lá sum suê, hoa nhỏ màu vàng li ti và thơm ngát. Ngược lại, các loài ngâu rừng mọc hoang dã trong tự nhiên thường có cấu trúc tán, dạng lá và môi trường sinh thái khác biệt. Do cùng chi thực vật, nhiều người lầm tưởng chúng có công dụng tương đương và có thể dùng chung bài thuốc.

Tuy nhiên, các tài liệu khoa học hiện nay chỉ làm rõ hoạt chất trên cây hoa ngâu (Aglaia odorata) và một biến thể nhỏ của nó [1, 5]. Chưa có nghiên cứu chi tiết so sánh trực tiếp độc tính hay hàm lượng giữa ngâu rừng Aglaia pleuropteris và ngâu ta trong các tài liệu được cung cấp [1]. Việc tùy tiện sử dụng thảo dược mọc hoang dã khi chưa rõ danh tính sinh học thực sự tiềm ẩn nhiều nguy cơ ngộ độc.

Hoạt chất đặc trưng: Nhóm dẫn xuất rocaglate ức chế tế bào

Từ những năm 1960, các loài thuộc chi Ngâu đã được giới khoa học điều tra về thành phần hóa thực vật cũng như đặc tính sinh học [1]. Điểm đặc biệt nhất của chi thực vật này là sự hiện diện của nhóm hợp chất cyclopenta[b]benzofuran, còn được gọi là rocaglate hoặc flavagline [1]. Đây là những chất chuyển hóa thứ cấp có cấu trúc dị vòng chứa oxy, với hơn 100 dẫn xuất khác nhau đã được phân lập từ các loài ngâu [1].

Các dẫn xuất rocaglate thu hút sự quan tâm lớn của các nhà hóa dược và sinh học nhờ cấu trúc độc đáo cùng tiềm năng chống ung thư và kháng virus [1]. Cơ chế tác động chủ yếu của nhóm chất này là ức chế yếu tố khởi đầu dịch mã sinh vật nhân thực 4A (eIF4A), từ đó can thiệp và ngăn chặn quá trình tổng hợp protein của tế bào [1]. Ngoài rocaglate, chi Ngâu còn chứa nhiều nhóm chất chuyển hóa thứ cấp khác như bisamide, flavonoid, lignan và các dạng triterpenoid như baccharane, cycloartane và dammarane [1].

Việc chứa các hoạt chất có khả năng ức chế dịch mã tế bào cho thấy dược liệu thuộc chi Ngâu sở hữu hoạt tính sinh học cực kỳ mạnh [1]. Đây là con dao hai lưỡi: ở góc độ dược lý học, chúng là nguồn phát triển thuốc điều trị; nhưng ở góc độ tiêu dùng tự do, chúng tiềm ẩn độc tính sinh học cao nếu dùng sai liều hoặc dùng nhầm loài cây chưa kiểm chứng.

Nghiên cứu khoa học nói gì về ngâu hoa ta (Aglaia odorata)

Các nghiên cứu chuyên sâu đã làm sáng tỏ nhiều mặt hoạt tính và thành phần của cây hoa ngâu thông thường. Một nghiên cứu công bố năm 2012 đã tiến hành kiểm tra thành phần hóa học của lá cây ngâu Aglaia odorata [2]. Các nhà khoa học đã phân lập được năm hợp chất mới gồm hai dolabellane diterpenoid, hai dammarane triterpenoid, một protostane triterpenoid cùng hai mươi hợp chất đã biết [2]. Khi đánh giá khả năng ức chế sinh oxit nitric (NO) gây ra bởi LPS trên dòng tế bào RAW264.7, có 11 hợp chất thể hiện hoạt tính mạnh với giá trị IC50 từ 2,1 đến 14,2 microM, tốt hơn cả chất đối chứng indomethacin có IC50 là 14,5 microM [2]. Ngoài ra, có 3 hợp chất thể hiện hoạt tính ức chế giải phóng PGE2 đáng kể với giá trị IC50 lần lượt là 2,6, 16,1 và 23,0 microM [2].

Đến năm 2024, một nghiên cứu tiếp tục phân lập từ cành và lá cây ngâu Aglaia odorata sáu hợp chất 2, 9-deoxyflavonoid mới và sáu hợp chất đã biết [3]. Bốn hợp chất (kí hiệu 1/2a, 1/2b, 4 và 6) cho thấy tác dụng bảo vệ tiềm năng trên mô hình tế bào biểu mô phế quản người BEAS-2B bị tổn thương do dịch chiết khói thuốc lá 0,75% [3]. Đáng chú ý, các hợp chất này có thể bị biến đổi sinh học thành dẫn xuất aglaindanone E khi tiếp xúc với ánh sáng tự nhiên [3].

Về mặt hương thơm và tinh dầu, nghiên cứu năm 2007 trích xuất tinh dầu hoa ngâu bằng phương pháp CO2 siêu tới hạn ở 25 MPa, 40 độ C trong 80 phút, đạt hiệu suất thu hồi dầu là 2,64% [4]. Phân tích sắc ký khí khối phổ (GC-MS) tách được 54 đỉnh và xác định được 48 hợp chất, bao gồm 18 terpen, 12 este [4]. Thành phần chủ yếu gồm alpha-humulene, ethyl linolenate, germacrene D, beta-elemene, copaene, caryophyllene, methyl jasmonate, beta-humulene-7-ol và ethyl palmitate [4].

Đối với biến thể Aglaia odorata var. microphyllina, nghiên cứu năm 2012 phân lập được 5 triterpenoid loại apotirucallane mới (agladorals A–E) cùng 28 hợp chất đã biết (20 triterpenoid và 8 rocaglamide) từ cành cây [5]. Một nghiên cứu khác năm 2014 trên biến thể này cũng phân lập được một diterpenoid mới và một sesquilignan mới, trong đó hợp chất diterpenoid thể hiện hoạt tính gây độc tế bào trên dòng tế bào K562 với giá trị IC50 là 12,5 microg/mL [6].

Độc tính tế bào và đặc tính ức chế thực vật

Mặc dù có tiềm năng dược liệu, ngâu không phải là thảo mộc hoàn toàn lành tính để dùng bừa bãi. Năm 2016, một nghiên cứu phát hiện dịch chiết nước - cồn của lá ngâu Aglaia odorata có hoạt tính ức chế sinh trưởng thực vật rất mạnh [7]. Dịch chiết này ức chế sự phát triển của rễ và chồi các loài cây như cải xoong dại, xà lách, cỏ linh lăng, cỏ timothy, cỏ lúa mạch đen và cỏ lồng vực theo nồng độ [7]. Hoạt chất chính gây độc thực vật được tinh chế và xác định là rocaglaol, có khả năng ức chế sinh trưởng cải xoong dại ở nồng độ trên 0,3 microM và cỏ lồng vực ở nồng độ trên 0,03 microM [7]. Nồng độ ức chế 50% (IC50) dao động từ 0,09 đến 2,5 microM, thậm chí tác dụng trên cỏ lồng vực còn mạnh hơn nhiều so với axit abscisic [7].

Về độc tính trên tế bào người, nghiên cứu năm 2022 phân lập từ Aglaia odorata ba dẫn xuất aglain mới, một aglain đã biết, hai dẫn xuất rocaglamide, bốn triterpenoid và ba steroid [8]. Kết quả thử nghiệm cho thấy năm hợp chất thể hiện độc tính tế bào trên dòng tế bào bệnh bạch cầu ở người (HEL) và tế bào ung thư vú với giá trị IC50 trong khoảng 0,03 đến 8,40 microM [8]. Riêng một dẫn xuất rocaglamide (hợp chất 5) có độc tính tế bào trên dòng HEL mạnh gấp sáu lần so với chất đối chứng dương adriamycin [8].

Những bằng chứng này chứng minh các bộ phận như cành lá của ngâu chứa hàm lượng độc chất tế bào rất cao [6, 7]. Hầu hết các thử nghiệm hiện nay mới dừng lại ở quy mô nuôi cấy tế bào ống nghiệm (in vitro) hoặc trên cỏ dại, chưa có thử nghiệm lâm sàng đầy đủ về mức độ an toàn đường uống toàn thân cho người [2, 3, 6, 7].

Hiểu lầm phổ biến khi phân biệt ngâu rừng và ngâu ta

Nhiều người lầm tưởng rằng cây mọc hoang trong rừng (ngâu rừng) sẽ có dược tính mạnh hơn và bổ hơn ngâu trồng vườn nhà. Đây là quan niệm hết sức sai lầm và nguy hiểm. Mỗi loài trong 120 loài của chi Ngâu có thể chứa tỷ lệ rocaglate và độc tính tế bào rất khác biệt [1, 7].

Một hiểu lầm khác là dùng lá ngâu tươi sắc uống tùy tiện để trị viêm nhiễm. Dù lá ngâu có chứa các triterpenoid và diterpenoid kháng viêm mạnh trong ống nghiệm [2], lá cây này đồng thời chứa cả chất độc tế bào rocaglaol và các rocaglamide [6, 7]. Dân gian truyền thống chủ yếu dùng hoa ngâu để ướp trà tạo hương [4], không dùng bừa bãi cành lá hoang dã để uống lượng lớn.

Đặc biệt, chưa có nghiên cứu khoa học nào khẳng định ngâu rừng (Aglaia pleuropteris) an toàn để pha trà hoặc làm vị thuốc thay cho hoa ngâu ta (Aglaia odorata) [1]. Mọi sự đánh đồng hai loài này chỉ dựa vào tên gọi dân gian đều tiềm ẩn nguy cơ ngộ độc.

Ai nên thận trọng khi tiếp xúc và sử dụng

Các nhóm đối tượng sau cần hết sức cẩn trọng và không tự ý sử dụng các chế phẩm từ ngâu rừng hay các bộ phận chưa được kiểm chứng của ngâu ta:

  • Phụ nữ có thai và phụ nữ đang cho con bú: Tuyệt đối không dùng cành lá hay sản phẩm từ ngâu rừng; các hoạt chất rocaglate can thiệp trực tiếp vào quá trình tổng hợp protein và phân chia tế bào [1, 7]. Hiện chưa có bất kỳ dữ liệu an toàn nào trên nhóm đối tượng này.
  • Trẻ nhỏ và người cao tuổi có bệnh nền: Độc tính tế bào của các dẫn xuất trong lá ngâu có thể ảnh hưởng tiêu cực tới chức năng gan, thận [8].
  • Người đang điều trị bệnh bằng thuốc tây: Khả năng ức chế eIF4A và hoạt tính kháng viêm mạnh mẽ của các chất trong cây có thể gây tương tác bất lợi với các phác đồ điều trị [1, 2]. Cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa trước khi dùng bất kỳ bài thuốc dân gian nào liên quan đến chi Ngâu.

Hướng dẫn sử dụng an toàn trong đời sống

Để tận dụng giá trị của ngâu mà vẫn bảo đảm an toàn cho sức khỏe, người tiêu dùng nên tuân thủ các nguyên tắc thực tế:

  • Nhận diện và nguồn gốc: Chỉ sử dụng hoa ngâu ta (Aglaia odorata) có nguồn gốc rõ ràng, được trồng làm cảnh hoặc thu hái từ các vườn trồng chuẩn hóa. Tuyệt đối không tự ý hái cành, lá, rễ của cây ngâu rừng mọc hoang để làm thuốc hoặc ngâm rượu.
  • Cách dùng truyền thống: Hoa ngâu ta chủ yếu nên dùng ướp trà mạn hoặc pha nước thơm với lượng vừa phải để thưởng thức hương vị tự nhiên của tinh dầu [4]. Không lạm dụng sắc nước lá tươi uống thay nước lọc hàng ngày.
  • Thận trọng với chế phẩm tự chế: Không tự ý bào chế thuốc diệt cỏ hay dung dịch xịt côn trùng từ lá ngâu tại nhà mà không có bảo hộ lao động, do dịch chiết chứa hàm lượng rocaglaol gây độc thực vật và sinh học rất cao [7].

Dù ngâu là loài cây thân thuộc với nhiều hợp chất tiềm năng chống viêm và kháng ung thư trên bàn thí nghiệm, khoảng cách từ ống nghiệm đến ứng dụng điều trị an toàn cho người vẫn còn rất xa [2, 7]. Việc hiểu rõ giới hạn nghiên cứu, phân biệt rõ ngâu cảnh hoa thơm và các loài ngâu rừng hoang dã sẽ giúp bạn bảo vệ sức khỏe cho bản thân và gia đình một cách khoa học nhất.