Nhiều người bệnh suy tim, tăng huyết áp hay phù nề điều trị bằng thuốc lợi tiểu quai furosemide lo ngại hạ kali máu. Không ít người băn khoăn: liệu ăn thêm chuối, cam, rau xanh có bù đủ kali mất đi, hay bắt buộc uống viên kali clorid?
Thực tế, chế độ ăn thông thường khó bù lượng kali mất do furosemide. Thuốc thải trừ mạnh kali qua nước tiểu, thường đòi hỏi bổ sung kali y tế hoặc phối hợp thuốc giữ kali. Bổ sung qua ăn uống cần có kiểm soát, tránh tự ý phối hợp sai cách.
Furosemide làm thất thoát kali như thế nào?
Furosemide là thuốc lợi tiểu quai tác dụng mạnh, ức chế đồng vận chuyển NKCC2 ở nhánh lên dày quai Henle [1]. Quá trình này ngăn tái hấp thu natri và clo, làm tăng thể tích nước tiểu để hạ áp và giảm phù [1].
Dưới điều kiện sinh hoạt bình thường, furosemide gây mất kali đáng kể [1]. Dòng dịch mang nồng độ natri lớn đến ống lượn xa kích thích bài tiết kali vào nước tiểu, dẫn đến nguy cơ hạ kali máu [1, 3]. Dùng liều duy nhất 1 mg/kg tiêm tĩnh mạch ở trẻ sơ sinh suy tim làm mất trung bình 0,3 mmol/kg kali cùng 3,6 mmol/kg natri [2]. Dùng kéo dài gây kiềm chuyển hóa và hạ kali máu [2].
Bù đắp qua thực phẩm: Liệu có đáp ứng đủ?
Chế độ ăn hiện đại chứa nhiều natri, nghèo kali [1]. Trái lại, tổ tiên loài người tiến hóa với nguồn thực vật giàu kali, ít natri, giúp cơ thể giữ natri và thải kali [1]. Thói quen ăn nhiều muối đẩy nhanh bài tiết kali qua thận khi dùng furosemide [1].
Một nghiên cứu năm 2019 công bố trên động vật cho thấy chế độ ăn ít natri kết hợp giàu kali làm thay đổi đáp ứng của quai Henle: furosemide trở nên giữ kali thay vì làm mất [1]. Tuy vậy, ở người bệnh ăn chế độ bình thường, mất kali vẫn diễn ra liên tục, đòi hỏi dùng viên uống kali clorid bổ sung hoặc thuốc giữ kali đi kèm [1, 3].
Chỉ dựa vào trái cây hay rau củ khó đảm bảo bù đủ ion kali mà furosemide đào thải. Khả năng dung nạp đường tiêu hóa kém hạn chế việc hấp thu lượng lớn thực phẩm giàu kali trong thời gian ngắn.
Bằng chứng nghiên cứu về hạ kali máu do furosemide
Furosemide có xu hướng làm mất kali cao hơn các thuốc cùng nhóm thế hệ mới hoặc các dạng phối hợp:
Nghiên cứu lâm sàng mù đôi năm 1986 trên 18 bệnh nhân tăng huyết áp có phù so sánh furosemide và torasemide trong 5 ngày [3]. Torasemide có hiệu lực lợi tiểu và thải natri gấp 8 lần furosemide, nhưng tác dụng thải kali chỉ gấp 3 lần [3]. Nghiên cứu năm 1988 trên 18 bệnh nhân phù do suy tim hoặc xơ gan ghi nhận torasemide tác dụng kéo dài hơn và giữ kali tốt hơn furosemide [4].
Dữ liệu tổng hợp năm 2001 và 2006 chỉ ra furosemide thường xuyên gây hạ kali máu hơn torasemide do torasemide chẹn thêm thụ thể aldosterone [2, 3]. Nghiên cứu TORIC trên bệnh nhân suy tim mạn ghi nhận tỷ lệ tử vong do tim mạch ở nhóm dùng torasemide thấp hơn nhóm dùng furosemide [5].
Nghiên cứu chéo nhãn mở năm 2005 trên người tình nguyện khỏe mạnh đánh giá phối hợp 40 mg furosemide với 150 mg triamterene [6]. Phối hợp này tăng bài tiết natri (p = 0,0001) nhưng giảm rõ rệt bài tiết kali qua nước tiểu (p = 0,0001) so với dùng furosemide đơn độc [6].
Tại nhóm bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối dùng furosemide để hỗ trợ chức năng thận tồn dư, thuốc giúp giảm tích tụ dịch và giảm ứ trệ kali máu trước các đợt lọc máu cấp [7].
Lợi ích và giới hạn của các bằng chứng khoa học
Các thử nghiệm xác nhận furosemide đơn độc gây mất kali liên tục và cần can thiệp hỗ trợ [1, 4]. Dữ liệu đối đầu với triamterene hay torasemide khẳng định hạ kali máu là đặc tính dược lý điển hình của furosemide [2, 4].
Giới hạn nghiên cứu: Thử nghiệm so sánh dược lực học [5, 6] tiến hành trên cỡ mẫu nhỏ (18 người) và thời gian ngắn (5 ngày). Thử nghiệm phối hợp triamterene [6] thực hiện trên người khỏe mạnh, chưa phản ánh đầy đủ chuyển hóa trên bệnh nhân suy tim, suy gan mạn tính. Hiện tượng thuốc lợi tiểu quai giữ kali khi ăn ít natri, giàu kali mới ghi nhận trên mô hình chuột [1].
Hiểu lầm thường gặp khi dùng furosemide
Nhiều người cho rằng ăn nhiều chuối hoặc cam là đủ ngừa hạ kali máu. Thực tế, ăn uống không kiểm soát không bù đắp kịp tốc độ thất thoát ion qua nước tiểu do furosemide gây ra [1, 7].
Ngược lại, một số người tự ý dùng cùng lúc chế độ ăn rất giàu kali, giảm muối triệt để và uống viên bổ sung kali. Nghiên cứu cảnh báo: kết hợp chế độ ăn ít natri, giàu kali cùng với thuốc bổ sung kali khi đang dùng lợi tiểu quai có thể làm tăng kali huyết tương khó lường [1].
Những nhóm đối tượng cần đặc biệt thận trọng
Bệnh nhân suy tim nặng, xơ gan cổ trướng: Rối loạn điện giải diễn tiến nhanh, dễ dẫn đến kiềm chuyển hóa và rối loạn nhịp tim khi dùng furosemide [2, 7].
Trẻ sơ sinh: Furosemide đào thải chậm hơn người lớn; dùng lâu ngày gây hạ kali máu, nhiễm kiềm chuyển hóa, sỏi thận, vôi hóa thận [2].
Bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối còn nước tiểu: Dùng furosemide để thải bớt dịch và kali thừa [7], nếu tự ý uống thêm viên kali clorid dễ dẫn đến tăng kali máu đe dọa tính mạng.
Người phối hợp thuốc: Bệnh nhân dùng đồng thời furosemide với triamterene hoặc thuốc kháng aldosterone như spironolactone cần hạn chế viên uống bổ sung kali do nguy cơ tăng kali máu thứ phát [3, 4].
Áp dụng thực tế và điều chỉnh khẩu phần
Người dùng furosemide cần tuân thủ đơn thuốc bổ sung kali clorid từ bác sĩ điều trị thay vì tự điều chỉnh qua đồ ăn.
Khẩu phần ăn cần duy trì cân bằng: Giảm bớt lượng natri từ đồ hộp, thực phẩm chế biến sẵn để giảm tải cho thận [1]. Đưa rau quả tươi giàu kali vào bữa ăn hàng ngày nhưng không dùng dồn dập số lượng lớn trong một bữa.
Không tự mua thêm viên uống kali nếu chưa xét nghiệm điện giải đồ. Việc phối hợp thêm thuốc lợi tiểu giữ kali như triamterene hay spironolactone cần có chỉ định chuyên khoa [3, 4].
Người dùng furosemide cần nhận thức rõ nguy cơ mất kali của thuốc. Bổ sung qua thực phẩm hỗ trợ sức khỏe nền tảng nhưng hiếm khi thay thế được viên kali clorid kê đơn; mọi điều chỉnh cần dựa trên xét nghiệm máu định kỳ.







