Sau phẫu thuật cắt dạ dày, người bệnh thường đối mặt với cảm giác đầy tức, mệt mỏi hoặc vã mồ hôi ngay sau khi ăn. Thói quen ăn ngày 3 bữa lớn không còn phù hợp khi cấu trúc đường tiêu hóa đã thay đổi.

Chia nhỏ bữa ăn hàng ngày là biện pháp dinh dưỡng cốt lõi nhằm ngăn ngừa hội chứng dumping và giúp cơ thể hấp thu dưỡng chất ổn định hơn [1], [2]. Việc giảm khối lượng thức ăn mỗi lần nạp giúp giảm áp lực cơ học lên đường ruột bị thu hẹp [3].

Cơ chế phát sinh hội chứng dumping sau phẫu thuật

Hội chứng dumping, hay hiện tượng dạ dày rỗng nhanh, là biến chứng thường gặp sau can thiệp cắt dạ dày [4]. Khi dạ dày bị thu nhỏ hoặc cắt bỏ toàn bộ, thức ăn không còn được lưu giữ và nhào trộn chậm rãi mà trôi nhanh xuống ruột non [5]. Tình trạng này được chia thành hai dạng gồm dumping sớm và dumping muộn, tùy thuộc vào thời điểm khởi phát triệu chứng [2].

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc dumping sớm dao động trong khoảng 10-20% ở bệnh nhân sau cắt dạ dày, trong khi dumping muộn xuất hiện ở khoảng 5-16% người bệnh [2]. Dumping sớm thường xảy ra trong vòng 1 giờ đầu sau ăn do lưu lượng máu dồn đột ngột về hệ mạch mạc treo, gây tụt huyết áp hệ thống phản ứng [4], [5]. Ngược lại, dumping muộn thường xuất hiện từ 2 đến 3 giờ sau ăn, bắt nguồn từ hiện tượng tăng tiết insulin quá mức dẫn đến hạ đường huyết [2].

Dung tích chứa của dạ dày suy giảm có mối liên quan trực tiếp đến các triệu chứng lâm sàng khó chịu [3]. Khi thức ăn tràn xuống ruột ồ ạt, áp lực thẩm thấu tăng nhanh kéo nước vào lòng ruột, đồng thời kích thích các thụ thể nội tiết ruột giải phóng hormone [4], [6].

Tác động huyết động và nội tiết đường tiêu hóa

Một nghiên cứu năm 2020 đánh giá biến đổi nội tiết và huyết động sau can thiệp cắt dạ dày chỉ ra rằng giãn mạch mạc treo tràng trên do thức ăn dẫn tới hiện tượng ứ máu nội tạng [5]. Tình trạng này gây nên stress hạ huyết áp toàn thân, kích hoạt các biểu hiện vận mạch như tim đập nhanh, hạ huyết áp, buồn ngủ và bồn chồn [5]. Để bù đắp, cơ thể phản ứng bằng hiện tượng co mạch thận nhằm ngăn tụt huyết áp hệ thống, ghi nhận xuất hiện có ý nghĩa thống kê ở nhóm phẫu thuật dạ dày [5].

Cũng trong nghiên cứu này, mức độ tăng đường huyết sau ăn, nồng độ GLP-1, GLP-2 và nhịp tim tăng vọt rõ rệt hơn ở người cắt dạ dày toàn bộ so với cắt dạ dày bán phần [5]. Bệnh nhân cắt dạ dày toàn bộ có nguy cơ mắc dumping sớm cao hơn do tốc độ vận chuyển dưỡng chất xuống ruột non diễn ra nhanh hơn hẳn [5]. Cắt dạ dày bán phần được xác định là một yếu tố độc lập liên quan đến nhóm ít triệu chứng với điểm chẩn đoán Sigstad từ 4 trở xuống [5].

Bên cạnh biến đổi huyết động, đáp ứng hormone incretin đóng vai trò cốt lõi trong dumping muộn [2], [6]. Nồng độ GLP-1 phóng thích quá mức kích thích tuyến tụy tăng tiết insulin ồ ạt, ức chế giải phóng glucagon và gây tụt đường huyết phản ứng dữ dội sau ăn [2], [6]. Báo cáo ca bệnh năm 2013 ghi nhận việc dùng octreotide ức chế hoàn toàn GLP-1 và GIP trong nghiệm pháp dung nạp 75 g glucose đường uống (75 g-OGTT), giúp ngăn ngừa nhịp tim nhanh và triệu chứng dumping sớm [4].

Bằng chứng lâm sàng về dung tích dạ dày và chế độ ăn

Một nghiên cứu năm 2016 trên 51 bệnh nhân đã trải qua cắt dạ dày toàn bộ hoặc bán phần tối thiểu 1 năm làm sáng tỏ mối quan hệ giữa chức năng tiêu hóa và triệu chứng hậu phẫu [3]. Các nhà khoa học sử dụng nghiệm pháp thở 13C-acetate để đo dung tích chứa và tốc độ tháo rỗng dạ dày, kết hợp thử nghiệm tải nước để đánh giá khả năng dung nạp thể tích nạp vào [3]. Kết quả cho thấy nhóm bệnh nhân có biểu hiện buồn nôn và triệu chứng dumping sớm toàn thân bị suy giảm dung tích chứa dạ dày rõ rệt (p < 0.05) [3].

Nghiên cứu trên cũng xác nhận bệnh nhân tiêu chảy kèm dumping sớm toàn thân có tốc độ tháo rỗng dạ dày nhanh hơn đáng kể [3]. Đồng thời, người có cảm giác no sớm và triệu chứng bụng của dumping sớm bị suy giảm khả năng dung nạp thể tích chất lỏng [3]. Khả năng dung nạp thể tích này tương quan trực tiếp đến biến thiên cân nặng và lượng thức ăn tiêu thụ trong từng bữa (p < 0.05) [3].

Hạn chế của nghiên cứu là thiết kế quan sát trên cỡ mẫu trung bình 51 người tại một trung tâm y tế [3]. Tuy nhiên, kết quả này giải thích rõ tại sao việc giảm thể tích trên từng bữa ăn là yêu cầu sinh lý bắt buộc để tránh quá tải dung tích đường tiêu hóa còn lại [3].

Hiệu quả của chất xơ tạo gel và các can thiệp hỗ trợ

Chế độ ăn truyền thống điều trị hội chứng dumping bao gồm các bữa ăn nhỏ, khô và thường xuyên [1]. Một số loại chất xơ nhớt đã được nghiên cứu nhằm mục đích làm chậm quá trình rỗng dạ dày [1], [7]. Thử nghiệm mù đôi có đối chứng năm 1984 trên 11 bệnh nhân sau cắt dạ dày gặp hội chứng dumping cho thấy việc bổ sung 5 g hạt guar gum vào bữa ăn dạng bán lỏng giúp làm chậm tốc độ rỗng dạ dày ở 5 trên 11 bệnh nhân đo bằng kỹ thuật đồng vị phóng xạ technetium Tc-99m DTPA [7]. Tác dụng làm chậm này có lợi nhất với các bữa ăn chứa nhiều đường đơn hoặc đường đôi [7].

Ngược lại, một thử nghiệm năm 1989 trên 5 bệnh nhân dumping nặng kháng trị lại ghi nhận bánh nướng muffin chứa 5 g pectin dán nhãn 99mTc-DTPA không làm chậm tháo rỗng dạ dày và không cải thiện triệu chứng so với muffin đối chứng [1]. Giới hạn mẫu nhỏ (5 bệnh nhân) trong thử nghiệm này cho thấy chất xơ bổ sung không phải lúc nào cũng mang lại hiệu quả đồng nhất [1]. Bổ sung chất xơ hòa tan không thể thay thế việc điều chỉnh cấu trúc và phân bổ bữa ăn hàng ngày [1].

Khi biện pháp ăn uống không kiểm soát được hạ đường huyết muộn, can thiệp dùng thuốc có thể được cân nhắc dưới chỉ định y khoa [2], [8]. Năm 2018, một báo cáo theo dõi bệnh nhân nam 83 tuổi sau cắt toàn bộ dạ dày bằng máy đo đường huyết liên tục (CGM) cho thấy cả chế độ ăn 3 bữa (1700 kcal) lẫn 6 bữa (1800 kcal) đều ghi nhận đỉnh đường huyết cao rồi tụt đột ngột sau 2 giờ [8]. Việc dùng thuốc ức chế alpha-glucosidase như miglitol (150 mg/ngày) hoặc thuốc ức chế DPP-4 như sitagliptin (50 mg/ngày) đã giúp giảm dao động đường huyết và hạn chế tăng tiết insulin quá mức [8].

Hiểu lầm thường gặp về ăn uống sau phẫu thuật dạ dày

Nhiều người bệnh lầm tưởng rằng chỉ cần chia nhỏ bữa ăn trong vài tuần đầu sau mổ là hệ tiêu hóa sẽ tự phục hồi như ban đầu. Nghiên cứu thực tế ghi nhận các ca bệnh xuất hiện triệu chứng dumping sau phẫu thuật tới 4 năm hoặc thậm chí 10 năm [4], [8]. Biến đổi giải phẫu và rối loạn huyết động mạc treo là thay đổi vĩnh viễn cần duy trì chế độ dinh dưỡng thích ứng lâu dài [5].

Một hiểu lầm khác là người bệnh uống nhiều nước ngay trong lúc ăn để dễ nuốt thức ăn đặc. Khả năng dung nạp thể tích chất lỏng sau phẫu thuật suy giảm rất lớn, việc vừa ăn vừa uống làm tăng thể tích dạ dày đột ngột và thúc đẩy tháo rỗng nhanh [3]. Dung nạp lượng carbohydrate đơn nồng độ cao vào ruột cũng kích hoạt đợt giải phóng incretin ồ ạt, làm nặng thêm tình trạng hạ đường huyết phản ứng [4], [2], [6].

Đối tượng cần đặc biệt thận trọng

Bệnh nhân thực hiện phẫu thuật cắt dạ dày toàn bộ cần áp dụng quy tắc chia bữa nghiêm ngặt hơn so với người cắt dạ dày bán phần [5]. Dữ liệu huyết động cho thấy nhóm cắt toàn bộ đối mặt với nguy cơ dumping sớm cao hơn do tốc độ đẩy dưỡng chất xuống ruột diễn ra nhanh hơn nhiều [5]. Sự gia tăng nhịp tim và nồng độ GLP-1, GLP-2 sau bữa ăn ở nhóm này cũng biến thiên mạnh hơn [5].

Trẻ em trải qua các phẫu thuật can thiệp đường tiêu hóa như phẫu thuật tạo nếp gấp đáy vị Nissen cũng có nguy cơ cao gặp hạ đường huyết sau ăn, ghi nhận ở khoảng 25% trường hợp [6]. Nhóm có nguy cơ cao hơn bao gồm phẫu thuật dưới 1 tuổi, vẹo cột sống nặng, dạ dày nhỏ bẩm sinh hoặc bất thường tim mạch lớn [6]. Người bệnh có triệu chứng buồn nôn, tiêu chảy kéo dài hoặc sụt cân cần được đánh giá chuyên sâu dung tích chứa và tốc độ lưu chuyển thức ăn [3].

Hướng dẫn thực hành chia nhỏ bữa ăn hàng ngày

Người sau can thiệp cắt dạ dày nên chia khẩu phần ăn thành 5 đến 6 bữa nhỏ trải đều trong ngày thay vì ăn 3 bữa lớn [2], [8]. Mỗi bữa ăn chỉ nên tiêu thụ lượng nhỏ thực phẩm khô hoặc đặc để thích ứng với dung tích chứa dạ dày bị thu hẹp [3], [1]. Bệnh nhân cần ăn chậm, nhai thật kỹ nhằm hỗ trợ quá trình tiêu hóa cơ học vốn đã mất đi một phần chức năng dạ dày.

Hạn chế tối đa các loại đồ uống và món ăn chứa nhiều đường đơn (monosaccharide) hoặc đường đôi (disaccharide) vì chúng dễ kích hoạt đợt bùng phát incretin và hạ đường huyết phản ứng [7], [2]. Tách biệt thời điểm uống nước và ăn thức ăn đặc, tốt nhất nên uống nước trước hoặc sau bữa ăn chính từ 30 đến 45 phút nhằm tránh vượt quá ngưỡng dung nạp thể tích của hệ tiêu hóa [3]. Có thể tham khảo ý kiến chuyên gia để bổ sung nguồn chất xơ phù hợp như guar gum vào bữa ăn nhằm hỗ trợ làm chậm tốc độ di chuyển dưỡng chất [7].

Kiểm soát dinh dưỡng sau phẫu thuật cắt dạ dày đòi hỏi sự kiên trì và lắng nghe phản ứng của cơ thể trong từng bữa ăn. Việc chia nhỏ khẩu phần, ăn khô và điều chỉnh lượng tinh bột hấp thu nhanh là nền tảng cốt lõi giúp ngăn ngừa hội chứng dumping. Bệnh nhân cần tái khám định kỳ và thảo luận với bác sĩ chuyên khoa hoặc chuyên gia dinh dưỡng khi các triệu chứng rối loạn tiêu hóa kéo dài.