Nhiều người xem nhân sâm châu Á (Panax ginseng) như một vị thuốc đại bổ, có thể cải thiện sinh lực và phục hồi thể trạng nhanh chóng [1]. Dù vậy, không ít người lo ngại việc dùng sâm có thể gây tăng xông đột ngột, dẫn đến tai biến tim mạch hoặc làm tụt huyết áp quá mức.

Thực tế nghiên cứu lâm sàng chỉ ra rằng nhân sâm không tác động theo một chiều duy nhất. Loại thảo dược này mang đặc tính điều hòa hai pha, có thể làm tăng nhẹ hoặc hạ nhẹ huyết áp tùy vào liều dùng và thành phần hoạt chất cụ thể [2].

Bí ẩn tác động hai pha của nhân sâm

Nhân sâm chứa nhóm hoạt chất chính là saponin triterpenoid, thường được gọi là các ginsenoside với hơn 20 loại có cấu trúc tương tự hormone steroid [3]. Chính sự đa dạng này tạo nên các tác động sinh học đối nghịch nhau trên hệ tim mạch và thần kinh [2].

Cụ thể, các glycoside thuộc nhóm dammarenetriol trong nhân sâm có tác dụng kích thích hệ thần kinh trung ương, từ đó có thể gây tăng huyết áp [2]. Ngược lại, nhóm glycoside dammarenediol lại mang đặc tính an thần và hỗ trợ hạ huyết áp [2]. Do cả hai nhóm chất cùng tồn tại trong củ sâm, phản ứng của cơ thể sẽ phụ thuộc vào việc nhóm chất nào chiếm ưu thế sau khi hấp thu [2].

Bên cạnh đó, cách thức mạch máu phản ứng với nhân sâm cũng có sự khác biệt định tính và định lượng giữa các mạch máu khác nhau [2]. Ở cấp độ vi tuần hoàn, sâm tham gia vào quá trình giải phóng các chất co giãn mạch để tái lập trạng thái cân bằng nội môi [2].

Liều thấp làm tăng, liều cao làm hạ?

Giả thuyết về mối quan hệ giữa liều lượng và huyết áp đã được đưa ra từ nhiều thập kỷ trước bởi nhà nghiên cứu Siegel, cho rằng nhân sâm liều thấp có thể gây tăng huyết áp [2]. Cơ chế này liên quan đến việc kích thích hệ thần kinh và tăng tiết các chất co mạch [2].

Ngược lại, các thử nghiệm lâm sàng và thí nghiệm trong phòng thí nghiệm gần đây chỉ ra rằng nhân sâm ở liều cao thúc đẩy sản sinh nitric oxide (NO) [2]. NO là chất nội sinh có tác dụng làm giãn cơ trơn thành mạch, giúp lòng mạch mở rộng và hỗ trợ làm giảm huyết áp [2].

Đáng chú ý, ở bệnh nhân tụt huyết áp khi chạy thận nhân tạo, việc dùng hồng sâm liều thấp 3,5 g mỗi lần lọc máu đã giúp duy trì sự ổn định huyết áp mà không làm tình trạng tụt huyết áp trầm trọng thêm [2]. Nghiên cứu chỉ ra sâm làm tăng nồng độ chất co mạch endothelin-1 (ET-1), đồng thời kích hoạt renin huyết tương (PRA) và angiotensin II (AngII) nhằm khôi phục đáp ứng tim mạch trước sự sụt giảm thể tích tuần hoàn [2]. Điều này cho thấy sâm hỗ trợ đưa huyết áp về mức bình thường trong trạng thái bệnh lý thay vì chỉ kéo tụt áp lực mạch [2, 3].

Nghiên cứu lâm sàng nói gì về huyết áp?

Để làm rõ nghi vấn sâm gây biến động huyết áp nguy hiểm, nhiều nhóm nghiên cứu đã tiến hành các thử nghiệm ngẫu nhiên, có đối chứng giả dược trên người.

Một tổng quan hệ thống năm 2006 thu thập dữ liệu từ 34 nghiên cứu trên các cơ sở dữ liệu lớn như MEDLINE, EMBASE và Cochrane [4]. Kết quả phân tích cho thấy nhân sâm có thể làm giảm nhẹ huyết áp từ 0% đến 4% so với nhóm dùng giả dược [4]. Tuy nhiên, các chuyên gia nhận định phần lớn thử nghiệm đều ngắn hạn, phương pháp không đồng nhất và bằng chứng hiện tại chưa đủ mạnh để khuyến nghị dùng sâm như thuốc điều trị các yếu tố nguy cơ tim mạch [4].

Trong một thử nghiệm tiến cứu, mù đôi, có đối chứng giả dược tại Đại học Connecticut trên 30 người trưởng thành khỏe mạnh, người tham gia được uống 200 mg chiết xuất Panax ginseng mỗi ngày trong 28 ngày [5]. Kết quả ngày đầu tiên cho thấy huyết áp tâm trương giảm từ 75 ± 5 mmHg xuống 70 ± 6 mmHg sau khi uống 2 giờ (p = 0,02), đi kèm khoảng QTc tăng thêm 0,015 giây (p = 0,03) [5]. Tuy vậy, các tác giả kết luận những thay đổi này không có ý nghĩa lâm sàng bệnh lý và không ghi nhận bất thường huyết động nào khác trong suốt 28 ngày [5].

Một thử nghiệm bắt chéo mù đôi năm 2016 trên người tình nguyện trẻ tuổi khỏe mạnh đã so sánh tác động của đồ uống tăng lực, đồ uống chứa 800 mg Panax ginseng và giả dược [6]. Trái ngược với nước tăng lực làm tăng huyết áp tâm thu thêm 2,00 mmHg sau 2 giờ, nhân sâm ở liều 800 mg hoàn toàn không gây ảnh hưởng đáng kể nào lên các chỉ số điện tâm đồ hay huyết áp [6].

Lợi ích chuyển hóa và giới hạn bằng chứng

Bên cạnh huyết áp, nhân sâm thường được truyền thông ca ngợi về khả năng kiểm soát mỡ máu và đường huyết [1, 2]. Tuy nhiên, các dữ liệu khoa học thực tế vẫn còn nhiều điểm mâu thuẫn cần được nhìn nhận khách quan [6, 8].

Về mỡ máu, tổng quan năm 2006 ghi nhận 5 trên 9 nghiên cứu cho thấy sâm cải thiện một hoặc nhiều chỉ số lipid từ 7% đến 44% so với ban đầu [4]. Dù vậy, một thử nghiệm mù đôi có đối chứng năm 2013 trên 40 bệnh nhân tăng mỡ máu tại Iran, dùng sâm 2 viên x 2 lần/ngày trong 8 tuần, lại không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về cholesterol toàn phần, triglycerid, LDL-C hay HDL-C so với nhóm giả dược [3]. Nghiên cứu này cũng không ghi nhận thay đổi trên dấu ấn viêm hs-CRP hay cân bằng chống oxy hóa [3].

Về chuyển hóa đường, một số thử nghiệm xác nhận sâm có thể hạ đường huyết [4]. Thử nghiệm bắt chéo năm 2006 trên 27 người trưởng thành khỏe mạnh dùng 200 mg chiết xuất G115 cho thấy sâm giúp cải thiện hiệu suất làm bài kiểm tra số học và giảm cảm giác mệt mỏi tinh thần, song không tìm thấy tương tác cộng gộp giữa sâm và lượng glucose nạp vào [7]. Nhìn chung, các nghiên cứu chất lượng cao quy mô lớn về chuyển hóa vẫn còn thiếu [4].

Hiểu lầm thường gặp khi dùng nhân sâm

Hiểu lầm phổ biến nhất là người bị tăng huyết áp tuyệt đối không được chạm vào nhân sâm vì sợ đứt mạch máu não. Các bằng chứng lâm sàng chỉ ra rằng nhân sâm với liều chiết xuất tiêu chuẩn (200 - 800 mg) không gây bùng phát cơn tăng huyết áp kịch phát ở người khỏe mạnh [4, 5].

Một ngộ nhận khác là sâm có thể dùng thay thế thuốc hạ áp hàng ngày. Mức giảm huyết áp nhẹ ghi nhận từ các nghiên cứu (khoảng vài mmHg hoặc 0-4%) chỉ mang tính hỗ trợ điều hòa và không đủ hiệu lực để thay thế liệu trình điều trị y khoa chuyên biệt [1, 4].

Nhiều người cũng tin rằng sâm càng đắt tiền, dùng liều càng cao thì mạch máu càng khỏe. Thực tế các dạng chiết xuất enzym tạo ra các saponin thứ cấp như Rh1, Rg3, Compound K làm thay đổi hoạt tính sinh học [1], do đó việc tự ý tăng liều có thể dẫn đến các phản ứng tim mạch khó lường [2].

Ai nên thận trọng khi sử dụng?

Dù các nghiên cứu độc tính đường tiêm trên động vật cho thấy sâm có độ an toàn cao với LD50 vượt mức 1,0 mL/con [1], người dùng vẫn cần lưu ý các nhóm đối tượng đặc thù [8].

Người mắc bệnh tăng huyết áp giai đoạn nặng chưa kiểm soát được bằng thuốc không nên tự ý dùng các chế phẩm sâm liều thấp kéo dài vì nguy cơ kích thích co mạch thông qua endothelin-1 và trục renin-angiotensin [2]. Những bệnh nhân đang chạy thận hoặc rối loạn huyết động cần có sự giám sát chặt chẽ của bác sĩ chuyên khoa nếu dùng sâm để hỗ trợ huyết áp [2].

Người có tiền sử rối loạn nhịp tim hoặc hội chứng khoảng QT kéo dài cũng cần cẩn trọng, do chiết xuất sâm liều 200 mg từng ghi nhận làm tăng nhẹ khoảng QTc trên điện tâm đồ trong thời gian ngắn [5]. Phụ nữ mang thai, người đang dùng thuốc chống đông hoặc thuốc hạ đường huyết cần hỏi ý kiến bác sĩ trước khi bổ sung sâm [1, 8].

Hướng dẫn áp dụng an toàn trong đời sống

Để khai thác lợi ích tăng cường sinh lực của nhân sâm mà không ảnh hưởng tiêu cực đến huyết áp, người tiêu dùng nên tuân thủ các nguyên tắc khoa học:

Về liều lượng, mức sử dụng chiết xuất Panax ginseng đường uống an toàn và phổ biến trong các nghiên cứu dao động từ 200 mg đến 800 mg mỗi ngày [4, 5]. Nếu sử dụng hồng sâm nguyên củ dạng sắc hoặc bột cho mục đích điều hòa, mức 3,5 g mỗi lần đã được chứng minh duy trì ổn định huyết áp trên đối tượng tụt áp [2].

Thời điểm sử dụng thích hợp nhất là vào buổi sáng hoặc đầu giờ chiều để tận dụng tác dụng cải thiện độ tỉnh táo và giảm mệt mỏi tinh thần [7]. Tránh dùng sâm vào buổi tối vì đặc tính kích thích hệ thần kinh trung ương của nhóm glycoside dammarenetriol có thể gây khó ngủ, gián tiếp làm tăng huyết áp vào ban đêm [2].

Không kết hợp nhân sâm chung với các loại đồ uống tăng lực chứa nhiều caffeine hay chất kích thích, bởi đồ uống tăng lực có thể làm tăng huyết áp tâm thu và kéo dài khoảng QTc rõ rệt [6]. Người dùng nên theo dõi huyết áp định kỳ bằng máy đo tại nhà khi mới bắt đầu sử dụng sâm để lắng nghe phản ứng của cơ thể.

Nhân sâm là vị thuốc quý với cơ chế điều hòa huyết áp hai pha linh hoạt chứ không hoàn toàn gây hại hay đơn thuần chữa khỏi tăng huyết áp [1, 3]. Hiệu quả thực tế phụ thuộc lớn vào thể trạng từng cá nhân, loại ginsenoside và liều lượng sử dụng [3, 8]. Người có bệnh lý tim mạch mạn tính nên tham vấn ý kiến chuyên môn của bác sĩ điều trị để đảm bảo an toàn tối đa.