Nhiều người chọn chế độ nhịn ăn gián đoạn 5:2 (ăn bình thường 5 ngày, cắt giảm sâu calo trong 2 ngày) để giảm cân nhanh và kiểm soát đường huyết. Tuy nhiên, việc nhịn ăn kéo dài hoặc loại bỏ hoàn toàn chất béo trong các ngày "siết calo" khiến không ít người lo ngại về nguy cơ sỏi mật do dịch mật bị ứ đọng.

Thực tế, nhịn ăn kéo dài làm giảm tần suất co bóp của túi mật, tạo điều kiện cho cholesterol kết tinh. Khi hiểu rõ cơ chế co bóp của túi mật và mối liên hệ giữa các bữa ăn chứa chất béo với sự bài tiết dịch mật, người áp dụng có thể phòng ngừa biến chứng này hiệu quả.

Cơ chế co bóp túi mật khi đói và no

Túi mật hoạt động như một kho chứa dịch mật do gan sản xuất nhằm tiêu hóa chất béo. Ở người, sự vận động của túi mật có mối quan hệ chặt chẽ với nhu động của đường tiêu hóa cả trong trạng thái nhịn đói lẫn giai đoạn sau bữa ăn [1]. Khi thức ăn đi vào ruột non, cơ thể giải phóng hormone cholecystokinin kích thích túi mật co bóp, tống xuất dịch mật vào tá tràng [2], [3].

Nếu thời gian nhịn đói kéo dài, túi mật không nhận được tín hiệu kích thích từ hormone tiêu hóa để co bóp tống đẩy dịch mật. Hậu quả là thể tích túi mật lúc đói tăng lên và dịch mật lưu lại bên trong trong thời gian dài [4]. Nghiên cứu chỉ ra rằng thể tích túi mật khi nhịn ăn qua đêm ở người cao tuổi đo được trung bình khoảng 13,5 mL, cao hơn mức 10,9 mL ở người trẻ tuổi [5].

Hiện tượng ứ đọng dịch mật trong lòng túi mật tạo đủ thời gian cho lượng cholesterol dư thừa kết tụ nhân và phát triển thành sỏi [4]. Sự lắng đọng này ban đầu biểu hiện dưới dạng bùn mật, sau đó dần tích tụ thành các tinh thể sỏi mật lớn hơn [3].

Bão hòa cholesterol và rối loạn vận động túi mật

Sự ứ đọng kéo dài không chỉ đơn thuần là việc chậm lưu thông chất dịch. Rối loạn chức năng vận động túi mật thể hiện qua việc tăng thể tích túi mật lúc đói, tăng thể tích tồn dư sau ăn và chậm làm rỗng túi mật sau khi tiếp nhận bữa ăn [4]. Tình trạng vận động chậm chạp này là yếu tố nguy cơ chính hình thành sỏi mật cholesterol [4].

Nghiên cứu tổng quan năm 2018 chỉ ra rằng sự biến đổi khả năng co bóp của túi mật xuất phát một phần từ tác động gây độc trực tiếp của cholesterol mật chưa este hóa lên màng tế bào cơ trơn túi mật [4]. Quá trình này bao gồm sự di chuyển của cholesterol từ lòng túi mật vào lớp cơ trơn, ức chế điện thế hoạt động, giảm dòng canxi qua màng và làm giảm mật độ thụ thể cholecystokinin-1R trên cơ trơn [4].

Đồng thời, quá trình truyền tín hiệu của thụ thể này bị tách rời khiến hormone liên kết vào thụ thể nhưng không kích hoạt được protein G nội bào [4]. Tổn thương này dẫn đến sự suy giảm thần kinh nội tại của túi mật, làm giảm số lượng tế bào thần kinh, tế bào thần kinh đệm và mạng lưới tế bào kẽ Cajal, từ đó phá vỡ chu kỳ co bóp sau ăn và giãn nghỉ lúc đói [4].

Các bằng chứng khoa học ghi nhận điều gì?

Một nghiên cứu công bố năm 1994 đã khảo sát chức năng vận động túi mật bằng siêu âm trên 100 người tình nguyện khỏe mạnh và 150 bệnh nhân sỏi túi mật [2]. Các bệnh nhân được phân chia thành nhóm co bóp bình thường (108 người) và nhóm giảm co bóp (42 người) [2]. Kết quả cho thấy nhóm giảm co bóp có quá trình làm rỗng túi mật chậm hơn, lượng mật tống xuất ít hơn và độ dày lớp cơ túi mật tăng đáng kể so với nhóm co bóp tốt (1073 micromet so với 745 micromet) [2].

Nghiên cứu năm 1994 cũng ghi nhận thể tích sỏi mật ở nhóm giảm co bóp lớn hơn rõ rệt so với nhóm co bóp tốt (19,4 mL so với 9,6 mL) [2]. Khi thử nghiệm in vitro, các dải cơ túi mật của bệnh nhân có sỏi cholesterol và sỏi hỗn hợp cho thấy mức độ khiếm khuyết co bóp cơ học nghiêm trọng hơn hẳn so với bệnh nhân có sỏi sắc tố mật [2].

Một nghiên cứu khác thực hiện năm 1992 trên 9 bệnh nhân dùng thuốc octreotide trong 8 tháng cho thấy sau 24 giờ điều trị, phân suất tống xuất túi mật giảm 57% và tốc độ tống xuất giảm 63% [3]. Nồng độ cholecystokinin sau ăn bị suy giảm mạnh trong quá trình dùng thuốc [3]. Sau 6 tháng, 4 trong số 9 bệnh nhân vẫn duy trì tình trạng suy giảm phân suất tống xuất trên 35% và tốc độ tống xuất trên 40% [3]. Đáng chú ý, có 3 trong số 4 bệnh nhân này đã hình thành sỏi túi mật hoặc bùn mật [3].

Nghiên cứu năm 2014 trên 180 bệnh nhân khó tiêu chức năng mới được chẩn đoán (97 nữ, 83 nam, độ tuổi 20-79) ghi nhận phân suất tống xuất túi mật có mối tương quan nghịch với chỉ số khối cơ thể (BMI) [6]. Rối loạn thể tích túi mật lúc đói và phân suất tống xuất thể hiện rõ rệt nhất ở nhóm mắc hội chứng suy giảm chức năng sau ăn [6]. Ngoài ra, rối loạn vận động ruột cũng được xem là yếu tố hỗ trợ hình thành sỏi mật thông qua việc thay đổi nồng độ deoxycholate mật hoặc điều hòa vận động túi mật giai đoạn giữa các bữa ăn [7].

Lợi ích và giới hạn từ các nghiên cứu hiện tại

Các dữ liệu nghiên cứu chỉ ra mối liên hệ trực tiếp giữa sự suy giảm giải phóng cholecystokinin, ứ trệ dịch mật và sự hình thành sỏi [4], [3]. Tình trạng kém vận động cơ túi mật có thể phát hiện ở khoảng một phần ba số bệnh nhân và xuất hiện từ trước khi sỏi mật hình thành trên thực tế [4].

Tuy nhiên, các bằng chứng hiện có tập trung vào cơ chế ứ đọng dịch mật, phẫu thuật đường tiêu hóa, tác dụng của thuốc hoặc bệnh lý nền chứ chưa có thử nghiệm lâm sàng dài hạn theo dõi trực tiếp chế độ ăn 5:2 [1], [8], [3]. Các nghiên cứu về giải pháp tăng cường vận động túi mật bằng thuốc prokinetic để ngăn ngừa sỏi mật cũng chưa có dữ liệu theo dõi dài hạn để khẳng định hiệu quả phòng bệnh tuyệt đối [8].

Dù vậy, hiểu rõ cơ chế ứ đọng dịch mật do thiếu kích thích bài tiết giúp người thực hiện chế độ ăn kiêng có biện pháp điều chỉnh hợp lý, không để túi mật bất động quá lâu [4].

Hiểu lầm phổ biến khi nhịn ăn ngắt quãng

Nhiều người tin rằng trong các ngày nhịn ăn của chế độ 5:2, cần cắt bỏ hoàn toàn chất béo để đạt mức giảm cân tối đa. Việc cắt đứt hoàn toàn chất béo khiến đường ruột không thể kích thích giải phóng hormone cholecystokinin [4], [3]. Điều này khiến túi mật ở trạng thái nghỉ kéo dài, dịch mật không được làm rỗng đều đặn [4].

Một hiểu lầm khác là chỉ những người béo phì hoặc người cao tuổi mới có nguy cơ sỏi túi mật. Nghiên cứu thực tế cho thấy thể tích túi mật lúc đói ở người lớn tuổi tuy cao hơn người trẻ (13,5 mL so với 10,9 mL), nhưng khả năng tống xuất và thể tích tồn dư sau ăn 60 phút giữa hai nhóm tuổi khỏe mạnh là tương đương nhau [5]. Nguy cơ hình thành sỏi không phụ thuộc hoàn toàn vào tuổi tác mà gắn liền với mức độ suy giảm vận động cơ túi mật và nồng độ cholesterol bão hòa trong dịch mật [2], [4].

Việc lầm tưởng rằng sỏi mật chỉ là bệnh tại chỗ ở túi mật cũng cần được nhìn nhận lại, bởi các tương tác vận động của toàn bộ đường ruột và nồng độ acid mật cũng đóng vai trò thúc đẩy sỏi kết tụ [7].

Ai nên thận trọng với chế độ 5:2?

Những người có tiền sử bùn mật hoặc sỏi túi mật không triệu chứng cần đặc biệt cẩn trọng trước khi bước vào chế độ ăn kiêng ngắt quãng [3]. Sự suy giảm vận động túi mật làm tăng nguy cơ phát triển kích thước sỏi hoặc tái phát sỏi sau các biện pháp tán sỏi, dùng thuốc làm tan sỏi [4].

Người mắc chứng khó tiêu chức năng, nhất là nhóm có chỉ số BMI cao hoặc có hội chứng suy giảm chức năng sau ăn, vốn đã có sự suy giảm phân suất tống xuất túi mật [6]. Việc tiếp tục nhịn ăn ngắt quãng kéo dài mà không kiểm soát có thể khiến tình trạng ứ trệ trở nên nặng hơn [6], [4].

Bệnh nhân từng trải qua phẫu thuật đường tiêu hóa như cắt dạ dày Billroth II, tạo hình môn vị hoặc cắt đoạn đại tràng thường bị suy giảm vận động túi mật [1]. Nhóm đối tượng này cùng người đang sử dụng các thuốc gây ức chế co bóp đường mật cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa trước khi áp dụng chế độ nhịn ăn [1], [8].

Hướng dẫn áp dụng an toàn trong đời sống

Trong hai ngày cắt giảm năng lượng của chế độ 5:2, người thực hiện không nên nhịn đói tuyệt đối hoặc loại bỏ sạch chất béo. Hãy duy trì một lượng nhỏ chất béo lành mạnh trong khẩu phần (như vài giọt dầu ô liu, một lát quả bơ hoặc các loại hạt) để kích thích niêm mạc ruột bài tiết cholecystokinin, thúc đẩy túi mật co bóp tống xuất mật dư thừa [4], [3].

Không nên xếp hai ngày "nhịn ăn" nằm liền kề nhau trong tuần. Phân bổ các ngày này xen kẽ giữa các ngày ăn uống bình thường để hạn chế chu kỳ ứ đọng dịch mật kéo dài liên tục nhiều ngày [4].

Vào những ngày ăn bình thường, cần duy trì chế độ dinh dưỡng cân bằng, uống đủ nước và tăng cường chất xơ để hỗ trợ nhu động ruột [7]. Chế độ ăn uống cân đối giúp kiểm soát nồng độ cholesterol tự do trong dịch mật, bảo vệ màng tế bào cơ trơn của thành túi mật không bị tổn thương và duy trì độ nhạy của các thụ thể co bóp [4].

Chế độ nhịn ăn 5:2 mang lại hiệu quả quản lý cân nặng nhưng đòi hỏi sự hiểu biết về sinh lý tiêu hóa để tránh tác dụng phụ lên túi mật. Việc cung cấp lượng nhỏ chất béo lành mạnh trong ngày giảm calo giúp duy trì chu kỳ co bóp tự nhiên của túi mật. Người có bệnh lý nền tiêu hóa hoặc nghi ngờ sỏi mật cần được bác sĩ thăm khám và hướng dẫn chuyên môn trước khi thay đổi thói quen ăn uống.