Tảo biển từ lâu đã trở thành món ăn quen thuộc trong bữa cơm gia đình hiện đại nhờ danh tiếng giàu khoáng chất và chất chống oxy hóa. Nhiều thai phụ tìm đến các món canh rong biển hay thực phẩm bổ sung từ tảo biển Sargassum (một chi tảo nâu phổ biến) với hy vọng tăng cường vi chất cho sự phát triển của thai nhi.
Tuy nhiên, phụ nữ mang thai không nên tùy tiện sử dụng tảo biển Sargassum. Mặc dù giàu dưỡng chất, chi tảo này tiềm ẩn rủi ro lớn cho thai kỳ do hàm lượng i-ốt dao động khó lường cùng nguy cơ tích lũy độc tố kim loại nặng.
Mối lo từ hàm lượng i-ốt thất thường
I-ốt là vi chất thiết yếu để tuyến giáp sản xuất hormone điều hòa nhiều quá trình chuyển hóa quan trọng trong cơ thể [1]. Dù thiếu i-ốt nhẹ có thể gây hại cho tuyến giáp, việc nạp quá mức vi chất này cũng trực tiếp dẫn tới các rối loạn chức năng tuyến giáp [2]. Bổ sung tăng cường i-ốt thường được khuyến khích trong giai đoạn đầu thai kỳ [2]. Dẫu vậy, nạp vi chất thông qua tảo nâu Sargassum lại tiềm ẩn nhiều nguy cơ khó kiểm soát [3], [2].
Các loại tảo biển như tảo bẹ (kelp), kombu và Sargassum có hàm lượng i-ốt rất cao, đôi khi vượt quá 1000 microgram i-ốt trong mỗi gam sản phẩm [3]. Chỉ cần tiêu thụ một lượng nhỏ dưới hoặc bằng 1 gam mỗi ngày của một số loài tảo biển cũng đủ vượt quá ngưỡng dung nạp an toàn cho cơ thể người [4]. Điều này khiến việc kiểm soát lượng i-ốt đưa vào cơ thể qua bữa ăn hàng ngày trở nên vô cùng phức tạp [3], [4].
Lượng i-ốt trong các chế phẩm từ tảo biển biến thiên rất lớn và phụ thuộc chặt chẽ vào quá trình thu hoạch, bảo quản cũng như phương pháp chế biến [3]. Báo cáo thực tế cho thấy một bát canh rong biển 250 mL có thể cung cấp từ 500 đến 1700 microgram i-ốt, tùy thuộc vào việc người ăn chỉ húp nước dùng hay ăn cả phần xác tảo [3].
Nguy cơ nhiễm độc thạch tín vô cơ và kim loại nặng
Bên cạnh vấn đề thừa vi chất, tảo biển có thể chứa các hợp chất độc hại tích tụ từ môi trường nước biển ô nhiễm [4]. Kim loại nặng như thạch tín (arsenic), cadmium, crom, niken và vanadi đã được tìm thấy trong nhiều loài tảo đỏ, tảo nâu và tảo lục khác nhau [4]. Sự hiện diện và nồng độ của các hợp chất này phụ thuộc vào phân loài tảo, vị trí sinh trưởng và từng mùa thu hoạch [4].
Đặc biệt, thạch tín vô cơ (inorganic arsenic) là mối lo ngại hàng đầu cần có các biện pháp giảm thiểu rủi ro vì độc tính cao và khả năng tích tụ lớn trong sinh khối tảo [5]. Tảo biển Sargassum fusiforme đã được ghi nhận có chứa thạch tín vô cơ ở mức cần phải xử lý can thiệp trước khi dùng [5].
Nghiên cứu về thành phần dưỡng chất ghi nhận tảo biển chứa nhiều chất xơ hòa tan, flavonoid và khoáng chất có lợi cho sức khỏe, song song đó vẫn mang theo các kim loại nặng có thể hủy hoại thể trạng nếu tích tụ lâu ngày [3]. Việc dung nạp quá mức các thành phần độc hại này không chỉ làm gián đoạn nồng độ hormone mà còn có thể gây tương tác bất lợi với các thuốc điều trị [4].
Các nghiên cứu khoa học ghi nhận điều gì?
Một báo cáo y khoa năm 2021 đã mô tả trường hợp trẻ sơ sinh đủ tháng bị suy giáp bẩm sinh bắt nguồn từ chế độ ăn giàu i-ốt bất thường của người mẹ [3]. Nghiên cứu chỉ ra rằng ở các bà mẹ Hàn Quốc duy trì tập quán uống canh rong biển nâu nhiều lần mỗi ngày sau sinh, nồng độ i-ốt trong sữa mẹ tăng rất cao và có liên quan đến tình trạng suy giáp dưới lâm sàng ở trẻ sinh non [3]. Dù vậy, các trường hợp suy giáp bẩm sinh do mẹ thừa i-ốt từ khẩu phần ăn hầu hết chỉ mới được ghi nhận trên các gia đình gốc Á [3].
Một nghiên cứu công bố năm 2023 trên đoàn hệ 349 phụ nữ mang thai ở giai đoạn cuối thai kỳ và 302 người tiếp tục theo dõi sau sinh tại Hàn Quốc đã đánh giá tác động của canh rong biển [6]. Kết quả cho thấy lượng i-ốt ăn vào trung vị của thai phụ là 459 microgram/ngày, và mức tiêu thụ này không làm thay đổi chức năng tuyến giáp hay kết quả chu sinh [6]. Tuy nhiên, lượng i-ốt sau sinh vọt lên trung vị 1759 microgram/ngày khi tỷ lệ dùng canh rong biển hàng ngày tăng từ 25,8% lúc mang thai lên 93,4% sau sinh [6]. Nghiên cứu này thực hiện trên quần thể phụ nữ vốn đã dung nạp đủ i-ốt từ trước, nên không đại diện cho phản ứng ở các đối tượng có nền tảng dinh dưỡng khác [6].
Nghiên cứu năm 2024 khảo sát dữ liệu dinh dưỡng quốc gia Hàn Quốc (2016-2021) trên diện rộng cho thấy lượng i-ốt bình quân nạp vào từ tảo nâu là 559,16 microgram/ngày, vượt xa mức khuyến nghị [1]. Trong đó, nước dùng tảo bẹ đóng góp tới 347,57 microgram/ngày, cao gấp 3 lần lượng hấp thụ từ việc chỉ ăn phần xác tảo [1]. Dù vậy, khảo sát chỉ ra chỉ có 37,6% người tham gia ăn tảo nâu vào ngày khảo sát, nghĩa là người dân không ăn hàng ngày và mức tiêu thụ thực tế có thể dao động tùy thói quen [1].
Nghiên cứu năm 2024 về việc ứng dụng tảo nâu làm nguyên liệu bánh mì tại châu Âu cho thấy, để giữ mức an toàn không vượt quá ngưỡng phơi nhiễm, người ta chỉ có thể phối trộn một lượng rất nhỏ [7]. Với loài tảo nâu chứa hàm lượng i-ốt tự nhiên cao tới 3500 mg/kg trọng lượng khô, giới hạn an toàn tối đa cho phép bổ sung vào bột làm bánh chỉ là 350 mg tảo cho mỗi kilôgam bột mì [7].
Giới hạn an toàn và nhãn mác thiếu minh bạch
Nhu cầu khuyến nghị hàng ngày (RDA) theo chuẩn Hà Lan/Scandinavia đối với phụ nữ mang thai là 175 microgram/ngày và phụ nữ cho con bú là 200 microgram/ngày [3]. Cơ quan An toàn Thực phẩm châu Âu (EFSA) xác định mức dung nạp tối đa có thể chấp nhận được ở người trưởng thành là 600 microgram/ngày [3]. Trong khi đó, việc sử dụng các sản phẩm tảo giàu i-ốt có thể khiến người dùng dễ dàng vượt qua ngưỡng an toàn này [3].
Mặc dù i-ốt rất quan trọng, một khảo sát năm 2015 tại thị trường Anh ghi nhận thực trạng đáng lo ngại: phần lớn các sản phẩm chứa rong biển không hề công bố hàm lượng i-ốt hay định lượng cụ thể thành phần rong biển trên nhãn mác [8]. Việc thiếu quy định bắt buộc dán nhãn nồng độ i-ốt gây cản trở lớn cho người tiêu dùng trong việc tính toán lượng vi chất nạp vào, làm tăng nguy cơ quá liều ngoài ý muốn [8]. Thậm chí chỉ một lượng nhỏ tảo nâu (kelp) cũng có thể tạo ra tác dụng kháng giáp do nhãn mác thiếu thông tin cảnh báo chuẩn xác [2].
Các nghiên cứu công bố đến nay có một số giới hạn nhất định. Khảo sát sản phẩm tiêu dùng năm 2015 chưa bao quát được các nhà hàng truyền thống hay cửa hàng địa phương và chưa phân tích kim loại nặng trong từng mẫu [8]. Nghiên cứu đoàn hệ năm 2023 chỉ theo dõi trong thời gian ngắn cuối thai kỳ và dựa trên bảng ghi chép khẩu phần 3 ngày, chưa phản ánh phơi nhiễm dài hạn [6].
Hiểu lầm: Cứ thực phẩm tự nhiên là an toàn vô hại
Nhiều người lầm tưởng rằng thực phẩm tự nhiên từ biển cả như tảo nâu luôn an toàn tuyệt đối và ăn càng nhiều càng bổ dưỡng. Thực tế, i-ốt ở nồng độ cực cao cũng bị xếp vào nhóm hợp chất gây độc cho cơ thể [4]. Việc nạp thừa i-ốt có thể làm gián đoạn hormone tuyến giáp tương tự như khi thiếu hụt [2], [4].
Một ngộ nhận khác là việc chế biến nhiệt thông thường sẽ loại bỏ sạch mọi rủi ro trong tảo biển. Đun sôi tảo Sargassum fusiforme ở nhiệt độ 90 độ C trong 5 phút kết hợp ngâm nước muối 2% có thể làm giảm nồng độ thạch tín vô cơ, nhưng cách làm này không đem lại hiệu quả trên mọi loại tảo [5]. Đun sôi loài Porphyra không làm thay đổi lượng thạch tín tổng số, dù có hỗ trợ làm giảm một số kim loại khác như đồng hay sắt [5].
Đối với i-ốt, quá trình đun sôi tảo nâu trong 20 phút có thể làm giảm khoảng 90% lượng chất này nhờ tính tan trong nước [5]. Sấy khô làm bay hơi khoảng 25% và chiên rán làm giảm từ 25% đến 80% nồng độ i-ốt trên loài S. latissima [5]. Dù việc sơ chế giúp giảm tải đáng kể, lượng i-ốt còn sót lại trong các loại tảo nâu đậm đặc vẫn có thể rất lớn và khó đong đếm chính xác tại gian bếp gia đình [3], [5].
Những đối tượng cần thận trọng
Phụ nữ mang thai và phụ nữ đang trong giai đoạn cho con bú cần hết sức thận trọng khi muốn sử dụng tảo biển Sargassum cũng như các loại tảo nâu khác [3], [2]. Dư thừa i-ốt từ người mẹ có thể truyền qua sữa, gây tác động xấu tới chức năng tuyến giáp của trẻ nhỏ [3]. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến nghị giới hạn i-ốt tối đa cho trẻ dưới 2 tuổi chỉ là 180 microgram/ngày, một ngưỡng rất dễ bị vượt qua nếu mẹ bài tiết quá nhiều i-ốt vào sữa [3].
Những người có tiền sử bệnh lý tuyến giáp hoặc đang điều trị bằng thuốc hormon cần tránh tự ý bổ sung tảo biển đậm đặc [2], [4]. Kim loại nặng và lượng vi chất thất thường trong tảo có thể gây tương tác bất lợi với phác đồ điều trị của bác sĩ [4]. Hiện tại chưa có nghiên cứu riêng khẳng định độ an toàn tuyệt đối của chi tảo Sargassum trên phụ nữ mang thai ở cộng đồng không có thói quen ăn tảo biển thường xuyên, dữ liệu an toàn thai kỳ hiện có chủ yếu ghi nhận trên nhóm phụ nữ Hàn Quốc vốn đã quen dùng món canh này từ lâu [6].
Gợi ý áp dụng và giải pháp thay thế an toàn
Để đáp ứng nhu cầu i-ốt tăng cao trong thai kỳ mà không đối mặt với rủi ro kim loại nặng, giải pháp tối ưu và chuẩn mực nhất đã được khẳng định là sử dụng muối i-ốt trong bữa ăn hàng ngày [2]. Phổ cập muối i-ốt toàn dân vẫn là phương pháp an toàn nhất để đạt được tình trạng vi chất tối ưu cho cơ thể [2].
Nếu thai phụ yêu thích hương vị rong biển, chỉ nên sử dụng với lượng vừa phải và thỉnh thoảng thay đổi khẩu vị, không nên dùng liên tục mỗi ngày [1]. Khi chế biến, việc đun sôi kỹ nguyên liệu rồi chắt bỏ phần nước luộc đầu có thể hỗ trợ rửa trôi bớt một phần lượng i-ốt và kim loại nặng hòa tan [5]. Tuyệt đối không tự ý dùng các viên uống thảo dược bổ sung chiết xuất từ tảo bẹ hay Sargassum khi chưa có chỉ định từ bác sĩ chuyên khoa [2], [4].
Cân bằng dinh dưỡng trong thai kỳ là điều tối quan trọng để bảo vệ mẹ và bé. Thay vì phụ thuộc vào các loại tảo biển có hàm lượng vi chất thất thường, thai phụ nên tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên gia dinh dưỡng để xây dựng thực đơn khoa học. Khám thai định kỳ và làm xét nghiệm kiểm tra chức năng tuyến giáp sẽ giúp người mẹ bổ sung đúng lượng vi chất cần thiết một cách an toàn.


