Riềng nếp (tên khoa học là Alpinia galanga) là loại gia vị và dược liệu quen thuộc trong đời sống người Việt [1]. Tuy nhiên, nhiều người thắc mắc liệu riềng nếp có tương tác với các loại thuốc làm loãng máu, thuốc chống đông máu hay thuốc ức chế kết tập tiểu cầu hay không.
Dù các nghiên cứu hiện tại chưa ghi nhận thử nghiệm lâm sàng trực tiếp trên người dùng đồng thời riềng nếp với thuốc chống đông máu, các phân tích sinh hóa chỉ ra rằng chiết xuất riềng nếp có khả năng ức chế enzyme gây viêm COX-2 mạnh mẽ [1, 8]. Tác dụng ức chế này tương tự như một số thuốc giảm đau kháng viêm nhóm NSAID, vốn có nguy cơ làm tổn thương niêm mạc dạ dày và tăng nguy cơ chảy máu [2]. Vì vậy, việc dùng liều cao dược liệu riềng nếp chung với thuốc chống đông máu hoặc aspirin tiềm ẩn nguy cơ hiệp đồng làm tăng xuất huyết, đòi hỏi người bệnh phải hết sức cẩn trọng.
Chiết xuất riềng nếp tác động thế nào đến phản ứng viêm?
Để hiểu lý do riềng nếp có thể tạo tương tác bất lợi, cần xem xét cơ chế kháng viêm của loài thực vật này. Trong y học cổ truyền, thân rễ của riềng nếp từ lâu đã được ứng dụng để hỗ trợ giảm nhẹ các rối loạn viêm nhiễm [1].
Tại các nghiên cứu cấp độ phân tử, chiết xuất cồn-nước của riềng nếp đã chứng minh khả năng ức chế trực tiếp enzyme COX-2 (cyclooxygenase-2) [1]. Enzyme COX-2 là đích đến chính của nhiều thuốc kháng viêm tổng hợp. Khi enzyme này bị ức chế, các hóa chất trung gian thúc đẩy phản ứng sưng đau sẽ sụt giảm rõ rệt [1].
Bên cạnh COX-2, riềng nếp còn làm giảm sự giải phóng các chất trung gian tiền viêm khác như IL-6, TNF-alpha, nitric oxide (NO) và các gốc oxy hóa tự do (ROS) [1]. Đồng thời, chiết xuất này thúc đẩy cơ thể giải phóng IL-10, một chất trung gian có vai trò điều hòa và dập tắt phản ứng viêm [1].
Nguy cơ hiệp đồng xuất huyết: Mối lo khi dùng chung với thuốc
Trong thực tế điều trị, các thuốc kháng viêm không steroid (NSAID) ức chế enzyme cyclooxygenase thường đi kèm nguy cơ làm tổn thương dạ dày, gây viêm loét và thậm chí xuất huyết tiêu hóa nghiêm trọng [2]. Khi bệnh nhân sử dụng thuốc chống đông máu hoặc thuốc chống kết tập tiểu cầu (như aspirin), hàng rào cầm máu tự nhiên đã bị can thiệp có chủ đích nhằm ngăn chặn hình thành huyết khối.
Nếu người bệnh cùng lúc sử dụng thêm các dược liệu chứa hoạt chất ức chế COX-2 mạnh mẽ từ riềng nếp ở nồng độ cao, hai tác động này có thể tạo ra hiệu ứng hiệp đồng [1, 3]. Tình trạng này làm tăng áp lực lên niêm mạc ống tiêu hóa và kéo dài thời gian đông máu, làm gia tăng nguy cơ chảy máu khó cầm [2].
Hiện nay, chưa có thử nghiệm lâm sàng nào đo lường trực tiếp mức độ tương tác giữa dược liệu riềng nếp với thuốc warfarin hoặc aspirin trên người. Các dữ liệu cảnh báo an toàn hiện tại chủ yếu suy đoán dựa trên cơ chế sinh hóa thực tế từ các mô hình tế bào [1, 8].
Các bằng chứng khoa học ghi nhận về riềng nếp
Các nhà khoa học đã tiến hành nhiều thử nghiệm trong phòng thí nghiệm để đánh giá các đặc tính dược lý của riềng nếp:
Nghiên cứu công bố năm 2021 được thực hiện trên dòng tế bào đại thực bào chuột (RAW 264.7) nhằm làm rõ cơ chế chống viêm của chiết xuất cồn-nước từ thân rễ riềng nếp [1]. Kết quả thử nghiệm bằng các phương pháp ELISA, Western blot và miễn dịch huỳnh quang cho thấy tiền xử lý bằng chiết xuất này đã ngăn chặn sự hoạt hóa con đường TLR4 và JAK/STAT do LPS kích thích [1]. Chiết xuất này ức chế sự chuyển vị vào nhân của yếu tố NFkappaB, đồng thời làm giảm biểu hiện các enzyme viêm then chốt gồm COX-2, iNOS và MMP-9 [1]. Nghiên cứu cũng chỉ ra chiết xuất riềng nếp rất giàu hợp chất polyphenol [1].
Một nghiên cứu công bố năm 2011 khảo sát tác động của chiết xuất hexane từ riềng nếp trên mô hình nguyên bào sợi màng hoạt dịch người được kích thích bởi IL-1beta trong 24 giờ [3]. Phân tích bán định lượng RT-PCR và kỹ thuật zymography xác nhận rằng dịch chiết riềng nếp làm giảm hoạt tính của MMP-2, đồng thời ức chế sự biểu hiện của các gene Cox-2, MMP-1, MMP-3 và MMP-13 [3]. Giới hạn của nghiên cứu này là mới chỉ dừng lại ở mô hình nuôi cấy tế bào in vitro, chưa phản ánh đầy đủ chuyển hóa thuốc thực tế trong cơ thể sống [3].
Nghiên cứu công bố năm 2009 phát hiện hợp chất p-hydroxycinnamaldehyde tinh sạch từ chiết xuất axeton của riềng nếp có tác dụng trên mô sụn khớp người và tế bào sụn khớp nguyên phát [4]. Hoạt chất này giúp ngăn chặn mất acid uronic, giảm giải phóng MMP-2, ức chế các gene thoái hóa mô MMP-3, MMP-13, đồng thời kích thích các gene đồng hóa sụn khớp như collagen II, aggrecan và SOX9 [4].
Năm 2013, một nghiên cứu trên động vật đánh giá tác dụng bảo vệ thận của chiết xuất cồn thân rễ riềng nếp trên chuột cống trắng bị tổn thương thận do đái tháo đường (gây bởi streptozotocin liều 60 mg/kg) [5]. Chuột được cho uống dịch chiết riềng nếp liều 50, 100 và 200 mg/kg một lần mỗi ngày trong 40 ngày [5]. Ở liều 200 mg/kg, dịch chiết giúp giảm đáng kể nồng độ malondialdehyde (MDA), tăng superoxide dismutase (SOD) và catalase (CAT) [5]. Ở liều 100 và 200 mg/kg, chiết xuất làm giảm nồng độ cholesterol toàn phần, triglyceride, LDL máu và tăng HDL máu [5]. Dù vậy, dữ liệu từ mô hình động vật mắc bệnh thận không thể tự suy diễn sang tính an toàn trên bệnh nhân đang dùng thuốc chống đông máu [5].
Về thử nghiệm trên người, một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên ba mù năm 2023 đánh giá chiết xuất riềng nếp trên 60 nam giới trưởng thành bị rối loạn cương dương do dùng thuốc chống trầm cảm SSRI [6]. Bệnh nhân được chia thành 2 nhóm: 30 người dùng 500 mg chiết xuất riềng nếp mỗi ngày và 30 người dùng giả dược trong 4 tuần [6]. Điểm chỉ số IIEF ở nhóm dùng riềng nếp tăng từ 11,2 +- 4,8 lên 17,4 +- 3,7 ở tuần thứ 4, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm giả dược (tăng từ 10,6 +- 3,8 lên 13,7 +- 4,3) [6]. Nghiên cứu này khẳng định tiềm năng của riềng nếp liều 500 mg đối với tình trạng rối loạn chức năng tình dục do thuốc chống trầm cảm, nhưng nghiên cứu hoàn toàn không khảo sát trên đối tượng bệnh nhân có vấn đề về đông máu hoặc dùng thuốc làm loãng máu [6].
Hiểu lầm thường gặp về tính an toàn của thảo dược
Một hiểu lầm phổ biến là quan niệm "thảo dược tự nhiên thì không gây hại và có thể dùng chung tùy ý với thuốc tây". Thực tế, các thảo mộc chứa hoạt tính dược lý mạnh hoàn toàn có thể tương tác với các thụ thể hoặc các chu trình enzyme trong cơ thể.
Nhiều người cho rằng vì riềng nếp là gia vị nấu ăn hàng ngày nên việc uống cao chiết đậm đặc hay các viên thực phẩm chức năng chiết xuất riềng nếp cũng an toàn tương đương. Sự khác biệt nằm ở nồng độ: lượng hoạt chất hấp thu từ vài lát riềng nấu chín trong bữa ăn khác xa so với nồng độ đậm đặc từ các chế phẩm bổ sung hay bài thuốc sắc liều cao.
Một số người bệnh khi tự ý bổ sung dược liệu thường giấu bác sĩ vì nghĩ không quan trọng. Việc phối hợp không kiểm soát các hoạt chất có tính kháng viêm tự nhiên với các thuốc điều trị tim mạch có thể làm biến đổi hiệu quả cầm máu mà người bệnh không hề hay biết [1, 3].
Những nhóm đối tượng cần thận trọng
Người bệnh đang điều trị bằng thuốc chống đông máu (như warfarin) hoặc thuốc ức chế kết tập tiểu cầu (như aspirin) cần thận trọng tối đa, tránh tự ý sử dụng các chế phẩm bổ sung chứa chiết xuất riềng nếp liều cao [1, 3].
Bệnh nhân có tiền sử loét dạ dày, tá tràng hoặc từng bị xuất huyết đường tiêu hóa cũng là nhóm nguy cơ cao cần tránh dùng đồng thời các hoạt chất thảo dược ức chế COX-2 với thuốc tây y gây kích ứng niêm mạc [1, 3].
Người chuẩn bị phẫu thuật hoặc thực hiện các can thiệp y khoa xâm lấn cần thông báo cho bác sĩ điều trị về tất cả các sản phẩm thảo dược và thực phẩm chức năng đang sử dụng để dự phòng nguy cơ chảy máu khó cầm trong quá trình can thiệp.
Phụ nữ mang thai, bà mẹ đang cho con bú và trẻ nhỏ cũng là những nhóm chưa có đầy đủ nghiên cứu an toàn chuyên biệt về các chế phẩm cô đặc từ riềng nếp, do đó chỉ nên tiêu thụ riềng nếp ở dạng gia vị chế biến thông thường.
Áp dụng thực tế an toàn trong đời sống
Trong chế độ ăn uống thường nhật, việc dùng một lượng riềng nếp vừa phải như một loại gia vị tạo mùi hương cho các món ăn truyền thống không gây ra các nguy cơ sức khỏe nghiêm trọng [1, 4]. Người khỏe mạnh hoàn toàn có thể an tâm sử dụng riềng nếp trong nấu nướng.
Nếu bạn đang phải điều trị bệnh mạn tính bằng thuốc chống đông máu hoặc aspirin, hãy giữ riềng nếp ở mức độ gia vị nêm nếm thông thường và không sử dụng các loại viên nang, trà thảo mộc đậm đặc hay cao chiết riềng nếp. Khi muốn dùng thêm bất kỳ bài thuốc y học cổ truyền hay sản phẩm bổ sung nào từ thân rễ riềng, bạn cần tham vấn ý kiến của bác sĩ điều trị để được theo dõi các chỉ số đông máu định kỳ [1].
Mọi biện pháp bổ sung thảo dược đều cần dựa trên sự hiểu biết khoa học cân bằng. Riềng nếp mang lại nhiều tiềm năng sinh học giá trị, nhưng việc sử dụng liều cao cần được giám sát chặt chẽ để đảm bảo an toàn tối đa cho sức khỏe.









