Nhiều người có thói quen giữ lại tai quả hồng (trong đông y gọi là thị đế) phơi khô để sắc nước uống trị nấc cụt hoặc thanh nhiệt hằng ngày. Thảo dược dân dã này chứa nhiều hoạt chất sinh học quý nhưng vị chát đậm đặc trưng lại là con dao hai lưỡi với hệ tiêu hóa. Nếu đun uống tùy tiện không đúng cách, bạn rất dễ gặp phải tình trạng cồn cào, buồn nôn hoặc chướng bụng khó tiêu.
Thị đế có vị chát đặc trưng do chứa hàm lượng polyphenol và tannin ngưng tụ rất cao [1]. Hoạt chất tannin khi gặp môi trường axit dạ dày sẽ kết tủa protein và niêm mạc đường tiêu hóa, gây cảm giác đầy trướng, nặng bụng nếu dùng liều cao hoặc uống lúc bụng rỗng. Để tận dụng lợi ích mà không hại bao tử, người dùng cần nắm rõ 3 lưu ý cốt lõi: không uống lúc đói, điều chỉnh lượng dùng vừa phải và không lạm dụng liên tục kéo dài.
Cơ chế tác động: Vị chát của thị đế ảnh hưởng dạ dày thế nào?
Thị đế là phần đài hoa bám chặt trên đỉnh của quả hồng (Diospyros kaki Thunb.) [2]. Nghiên cứu hóa thực vật chỉ ra rằng thị đế chứa lượng lớn hợp chất phenolic, trong đó thành phần nổi bật là tannin ngưng tụ cấu tạo từ các phân tử catechin [1], [3]. Ngoài ra, bộ phận này còn tích tụ axit tannic, catechin, gallocatechin cùng hàng loạt hợp chất triterpenoid như axit betulinic, axit ursolic, axit pomolic [2], [4].
Về mặt hóa học, tannin có đặc tính tự nhiên là làm săn se niêm mạc và liên kết mạnh mẽ với các phân tử protein, axit mật và khoáng chất [5]. Khi sắc nước uống với nồng độ đậm đặc, tannin tương tác trực tiếp với các thụ thể trên bề mặt niêm mạc dạ dày, gây ức chế tiết dịch vị và giảm nhẹ nhu động ruột tạm thời. Nếu trong dạ dày có thức ăn chứa nhiều đạm, tannin sẽ nhanh chóng phản ứng kết tủa thành các khối vón khó hòa tan, làm chậm quá trình tiêu hóa và sinh ra cảm giác ậm ạch, đầy hơi kéo dài.
Khi dùng nước sắc quá đặc vào lúc đói, nồng độ tannin tự do tiếp xúc trực tiếp với lớp chất nhầy bảo vệ niêm mạc dạ dày. Lực làm se mạnh khiến niêm mạc bị co thắt nhẹ, kích thích trực tiếp đầu dây thần kinh cảm giác và dẫn đến cơn đau cồn cào, buồn nôn hoặc xót ruột.
Nghiên cứu nói gì về thành phần và hoạt tính của tai quả hồng?
Các nhà khoa học đã tiến hành nhiều nghiên cứu phân tích thành phần dược liệu của tai quả hồng cũng như ảnh hưởng của các hợp chất tannin chiết xuất từ chúng:
Nghiên cứu công bố năm 2021 đã phân lập và xác định 26 hợp chất phenolic từ dịch chiết axeton 70% của thị đế, đồng thời xác nhận sự hiện diện của tannin ngưng tụ thông qua phổ cộng hưởng từ hạt nhân 13C-NMR và sắc ký thẩm thấu gel (GPC) [1]. Trong bài thuốc cổ truyền Shiteito (gồm thị đế kết hợp cùng gừng và đinh hương thường dùng để trị nấc cụt dai dẳng liên quan đến hóa trị ung thư), phân đoạn ethyl acetate của thị đế cho thấy khả năng ức chế đáng kể sự tăng sinh của dòng tế bào ung thư biểu mô tuyến dạ dày (AGS) và ung thư biểu mô đại tràng (Caco-2) ở nồng độ từ thấp đến trung bình [1].
Một nghiên cứu khác năm 2021 theo dõi sự biến đổi thành phần theo chu kỳ sinh trưởng trên 3 giống hồng ('Hiratanenashi', 'Jiro' và 'Tonewase') [2]. Kết quả chỉ ra rằng khối lượng dịch chiết và hàm lượng tổng tannin trong đài hoa tăng lên rõ rệt trong suốt quá trình quả chín [2]. Các nhà khoa học đã phân lập được 10 hợp chất gồm lupeol, axit betulinic, axit pomolic, axit ursolic, beta-sitosterol, axit rotungenic, axit barbinervic, catechin, gallocatechin và sucrose [2]. Đáng chú ý, lượng axit ursolic giảm dần theo độ chín của quả, trong khi axit betulinic, pomolic, rotungenic và barbinervic lại tăng lên [2].
Bên cạnh đó, nghiên cứu năm 2019 khảo sát đài của các giống hồng chát tại tỉnh Gyeongnam (Hàn Quốc) cho thấy mẫu thu hái ở giai đoạn 1 (tháng thứ 8-9) chứa tỷ lệ axit tannic rất cao, trong đó giống Gojongsi có hàm lượng cao nhất [4]. Dịch chiết này ức chế mạnh quá trình sản sinh oxit nitric (NO) và làm giảm biểu hiện protein iNOS phụ thuộc vào liều dùng trên tế bào RAW 264.7 [4]. Tất cả dịch chiết đều không thể hiện độc tính ở nồng độ dưới 100 microgam/ml [4].
Năm 2017, các nhà khoa học đánh giá tác dụng ức chế tế bào ung thư đại trực tràng của dịch chiết ethanol 70% từ tai quả hồng (DKC-E70) [6]. Dịch chiết đã ức chế sự tăng sinh của các dòng tế bào HCT116, SW480, LoVo và HT-29 thông qua việc kích hoạt thoái giáng và ức chế phiên mã cyclin D1 [6]. Ngoài ra, nghiên cứu năm 2017 trên chuột và tế bào HaCaT cho thấy dịch chiết nước của thị đế làm giảm tình trạng viêm da cơ địa do mạt bụi nhà gây ra [7]. Trên mô hình chuột viêm loét đại tràng năm 2021, tannin từ quả hồng bổ sung vào thức ăn giúp giảm viêm đại tràng, tăng vi khuẩn có lợi Bacteroides và ức chế vi khuẩn Enterobacteriaceae, Enterococcus [3].
Lợi ích thực tế và giới hạn của các bằng chứng khoa học
Nhờ chứa hàm lượng dồi dào các phân tử polyphenol, catechin và axit hữu cơ, nước sắc thị đế đem lại một số tác dụng hỗ trợ sinh học tiềm năng:
- Chống viêm và điều hòa miễn dịch cục bộ trên đường ruột, được ghi nhận qua các thử nghiệm mô hình chuột viêm đại tràng [3].
- Hỗ trợ làm giảm cảm giác nấc cụt dai dẳng khi phối hợp cùng các vị thuốc ấm nóng như gừng và đinh hương theo kinh nghiệm lâm sàng [1], [2].
- Gắn kết với axit mật trong đường tiêu hóa, làm tăng đào thải axit mật qua phân được chứng minh trên động vật thí nghiệm [5], [8].
Tuy nhiên, cần nhìn nhận khách quan về giới hạn của các nghiên cứu hiện hành. Phần lớn dữ liệu về khả năng chống ung thư biểu mô dạ dày, kháng viêm hoặc cải thiện chuyển hóa mỡ máu đều mới được thử nghiệm trên tế bào nuôi cấy trong ống nghiệm (in vitro) hoặc mô hình chuột (in vivo) [1], [7], [3], [6], [8]. Cho đến nay, chưa có nhiều thử nghiệm lâm sàng quy mô lớn trên người để xác định liều lượng an toàn tuyệt đối khi uống nước sắc độc vị hàng ngày. Hơn nữa, nồng độ tannin trong quả hồng và thị đế thay đổi phụ thuộc lớn vào giống cây trồng và thời điểm thu hoạch [2], [4].
Hiểu lầm thường gặp khi dùng tai quả hồng
Không ít người cho rằng thị đế là phụ phẩm tự nhiên lành tính nên có thể đun thật đặc uống thay nước lọc để giải độc. Thực tế, nước đun quá đặc chứa hàm lượng axit tannic và tannin ngưng tụ rất cao [1], [4]. Thói quen này không tăng thêm tác dụng mà trái lại sẽ làm suy giảm sự hấp thu vi chất dinh dưỡng và gây bào mòn cảm giác ngon miệng.
Một ngộ nhận khác là uống nước thị đế bất kể lúc đói hay no đều tốt. Uống một ấm trà thị đế đậm đặc vào sáng sớm khi bụng rỗng là cách nhanh nhất khiến dạ dày bị kích thích, gây cồn cào và đầy hơi. Ngoài ra, việc dùng thị đế độc vị dài ngày để chữa đau dạ dày là sai lầm, bởi hoạt chất tannin có thể làm nặng thêm các triệu chứng loét nếu niêm mạc đang có tổn thương hở.
Ai nên thận trọng khi uống nước sắc thị đế?
Do đặc tính liên kết protein và gây se mạnh của tannin, một số nhóm người cần hết sức cẩn trọng trước khi quyết định uống nước sắc này:
Người có tiền sử viêm loét dạ dày - tá tràng hoặc trào ngược dạ dày thực quản: Màng nhầy dạ dày của nhóm này vốn nhạy cảm; sự có mặt của tannin tự do dễ gây xót ruột, co thắt vùng thượng vị và buồn nôn.
Người mắc chứng táo bón mạn tính hoặc nhu động ruột kém: Tannin có khả năng làm se phân và giảm bài tiết dịch ruột [3], [5], việc bổ sung thêm nước sắc nhiều chát sẽ khiến tình trạng táo bón thêm trầm trọng.
Phụ nữ mang thai, người đang cho con bú và trẻ nhỏ: Hiện tại chưa có nghiên cứu an toàn cụ thể trên các nhóm đối tượng đặc thù này; các dữ liệu hiện có mới chỉ dừng lại ở tế bào và động vật gặm nhấm [1], [7], [3]. Do đó, các nhóm này không nên tùy tiện sắc uống hằng ngày.
Người đang dùng thuốc điều trị bệnh mạn tính: Nước sắc chứa tannin có thể liên kết với một số loại thuốc hoặc vi chất sắt, kẽm trong thức ăn, làm giảm khả năng hấp thu của cơ thể. Cần tham khảo ý kiến bác sĩ điều trị nếu đang dùng thuốc tây.
3 lưu ý quan trọng để tránh kích ứng dạ dày khi dùng tại nhà
Nếu muốn tận dụng nước sắc thị đế để chữa nấc hoặc hỗ trợ tiêu hóa một cách an toàn, bạn nên tuân thủ 3 nguyên tắc thực tế sau:
1. Không bao giờ uống khi bụng đói: Luôn dùng nước sắc sau bữa ăn chính khoảng 30 đến 45 phút. Sự hiện diện của một phần thức ăn đã được nhào trộn trong dạ dày đóng vai trò như lớp đệm sinh học, ngăn không cho tannin tiếp xúc tập trung với lớp biểu mô thành ruột, loại bỏ cảm giác cồn cào và xót ruột.
2. Sắc loãng với lượng vừa phải, kết hợp thảo mộc tính ấm: Tránh đun nước quá đen đặc hoặc ngâm hãm nhiều ngày. Bạn chỉ nên dùng một lượng nhỏ tai hồng khô rửa sạch, đun sôi nhẹ lấy nước trong hơi ngả vàng nhạt. Trong bài thuốc cổ truyền Shiteito, thị đế luôn được phối hợp cùng gừng (sinh khương) và đinh hương [1]. Vị cay ấm của gừng giúp kích thích tuần hoàn tại chỗ, làm dịu dạ dày và trung hòa tính hàn se của tai hồng.
3. Dùng theo đợt ngắn, không uống thay nước lọc cả năm: Chỉ nên sắc uống trong vài ngày khi xuất hiện triệu chứng nấc cụt hoặc khó chịu cơ hoành, sau đó ngưng lại. Việc dùng liên tục nhiều tuần liên tiếp có thể gây cản trở hấp thu sắt và làm giảm độ ẩm đường tiêu hóa do đặc tính hấp phụ axit mật và giữ dịch của tannin [5].
Nước sắc tai quả hồng là bài thuốc dân gian hữu ích cho các chứng nấc cụt dai dẳng và chứa nhiều hợp chất polyphenol tiềm năng [1], [2]. Tuy nhiên, hàm lượng tannin ngưng tụ tự nhiên dễ làm tổn thương dạ dày nếu uống tùy tiện [1]. Việc hiểu đúng cơ chế, uống sau bữa ăn với lượng vừa phải và tham khảo ý kiến thầy thuốc sẽ giúp bạn vừa thu được lợi ích vừa bảo vệ trọn vẹn sức khỏe hệ tiêu hóa.


