Nhiều bữa ăn truyền thống tại Đông Nam Á từ lâu đã sử dụng các loại rau rừng, thảo mộc tươi làm món ăn kèm hàng ngày [1]. Trong đó, cây sao nhái hồng, hay còn gọi là Ulam Raja (danh pháp khoa học: Cosmos caudatus), được người dân ưa chuộng bởi hương vị đặc trưng cùng lời đồn về công dụng bồi bổ, chống lão hóa [2, 3]. Dù vậy, không ít người vẫn băn khoăn liệu hàm lượng các hoạt chất sinh học, đặc biệt là nhóm polyphenol, trong loại lá cây này có thực sự cao như lời đồn hay chỉ là sự thổi phồng.

Các phân tích phòng thí nghiệm xác nhận rằng sao nhái hồng thực sự chứa hàm lượng dồi dào các polyphenol và flavonoid quý, tiêu biểu như quercetin (dưới các dạng liên kết glycoside) và axit chlorogenic [2]. Năng lực dọn gốc tự do của chiết xuất từ loại rau này vượt trội hơn nhiều loài thảo dược nhiệt đới quen thuộc khác, mở ra nhiều tiềm năng trong việc bảo vệ sức khỏe tim mạch và hạn chế stress oxy hóa [2, 6, 8].

Cơ chế chống oxy hóa của các hợp chất trong lá sao nhái

Căng thẳng oxy hóa xảy ra khi cơ thể tích tụ quá nhiều gốc tự do, gây tổn thương tế bào và là căn nguyên thúc đẩy nhiều bệnh mạn tính như tiểu đường hay tim mạch [3]. Nhóm hợp chất polyphenol đóng vai trò như các chất dọn dẹp tự nhiên, vô hiệu hóa các gốc tự do này nhằm ngăn chặn chuỗi phản ứng phá hủy màng tế bào [6, 8]. Trong tự nhiên, sao nhái hồng tích lũy một lượng lớn các phân tử phenolic nhằm tự bảo vệ trước tác động của môi trường nắng gắt [4, 6].

Bên cạnh đó, các dẫn xuất của flavonoid như quercetin giúp duy trì tính ổn định của thành mạch [4]. Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm chỉ ra rằng các phân đoạn giàu polyphenol và saponin từ loài cây này có khả năng làm chậm sự di chuyển và xâm lấn bất thường của tế bào cơ trơn mạch máu [4]. Đây vốn là một trong những hiện tượng khởi phát của mảng xơ vữa động mạch [4]. Việc can thiệp vào các enzyme chuyển hóa đường cũng là một cơ chế tiềm năng giúp thảo mộc này kiểm soát lượng đường sau bữa ăn [3].

Phân tích hàm lượng quercetin và axit chlorogenic

Để làm rõ các thành phần hóa thực vật trong lá sao nhái hồng, các kỹ thuật phân tích hiện đại đã được áp dụng [2]. Một nghiên cứu năm 2012 thực hiện phân tích bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao ghép đầu dò mảng diode và khối phổ (LC-DAD-ESIMS/MS) để định danh các hợp chất có trong lá [2]. Kết quả xác định được 6 hợp chất chính bao gồm: quercetin 3-O-rhamnoside (quercitrin), quercetin 3-O-glucoside, rutin, quercetin 3-O-arabinofuranoside, quercetin 3-O-galactoside và chlorogenic acid [2].

Hàm lượng của các chất chống oxy hóa này biến đổi phụ thuộc lớn vào thời điểm thu hoạch và chu kỳ mùa [2]. Mẫu sao nhái hồng gieo trồng trong mùa khô (từ tháng 6 đến tháng 8) cho chiều cao và hoạt tính sinh học vượt trội so với cây trồng trong mùa mưa (từ tháng 10 đến tháng 12) [2]. Đặc biệt, lá cây thu hoạch ở giai đoạn 8 tuần tuổi trong mùa khô đạt tổng hàm lượng polyphenol (TPC) lên tới 26,04 g GAE/100 g và nồng độ ức chế một nửa IC50 đạt 22,1 microgam/mL [2]. Nồng độ các dẫn xuất quercetin và axit chlorogenic đều có sự chênh lệch rõ rệt giữa các mốc sinh trưởng 8, 10 và 12 tuần tuổi qua hai mùa [2].

So sánh tiềm năng chống oxy hóa với các loại rau khác

Năng lực chống oxy hóa của sao nhái hồng không chỉ nằm ở mặt lý thuyết khi so sánh trực diện với các cây nhiệt đới khác [5]. Trong một công trình công bố năm 2010 nhằm khảo sát khả năng dọn gốc tự do DPPH của 21 loài thực vật nhiệt đới, các mẫu thử nghiệm có giá trị IC50 dao động từ 21,3 đến 89,6 microgam/mL [5]. Trong bảng xếp hạng này, Cosmos caudatus đứng ở nhóm đầu với chỉ số IC50 đạt 21,3 microgam/mL, tương đương với trầu không (Piper betle với 23,0 microgam/mL) [5].

Khả năng bắt gốc tự do của chiết xuất sao nhái hồng trong thử nghiệm này thậm chí không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê khi đặt cạnh các chất chống oxy hóa mẫu như alpha-tocopherol (vitamin E) hay BHA tổng hợp [5]. Nghiên cứu cũng ghi nhận mối tương quan thuận rất chặt chẽ giữa tổng hàm lượng phenolic (R = 0,8613), tổng flavonoids (R = 0,8430) và hoạt tính chống oxy hóa [5]. Trong khi rau má (Centella asiatica) nổi bật với myricetin thì sao nhái hồng sở hữu tổ hợp polyphenol cân bằng, duy trì hiệu lực dọn gốc tự do mạnh mẽ [5].

Bằng chứng khoa học về công dụng đối với tế bào

Không chỉ dừng lại ở hoạt tính chống oxy hóa đơn thuần, các phần chiết xuất của cây còn thể hiện tác động trực tiếp trên mô hình tế bào nuôi cấy [4]. Nghiên cứu năm 2017 sử dụng phương pháp ngâm chiết chồi ngọn sao nhái hồng trong cồn 50%, sau đó phân đoạn bằng n-butanol và nước [4]. Kết quả cho thấy phân đoạn butanol thu được hiệu suất thấp nhất nhưng lại giàu hoạt chất phenolics, saponin nhất và phát huy tác lực mạnh nhất trên các thử nghiệm chống oxy hóa [4].

Ở nồng độ tương đương IC25, phân đoạn butanol này ức chế sự di chuyển của tế bào cơ trơn mạch máu (VSMC) ở mức 53,93% và giảm sự xâm lấn tới 59,94% [4]. Kết quả này mang ý nghĩa gợi mở trong việc phòng ngừa xơ vữa động mạch từ sớm [4]. Ngoài ra, một tổng quan năm 2015 cũng ghi nhận loài cây này thể hiện hoạt tính ức chế enzyme alpha-glucosidase mạnh trong ống nghiệm, giúp làm chậm quá trình hấp thu carbohydrate từ đường tiêu hóa, từ đó hỗ trợ giảm đường huyết sau ăn [3].

Giới hạn của các nghiên cứu hiện nay

Mặc dù các dữ liệu ban đầu rất hứa hẹn, người tiêu dùng cần nhìn nhận đúng ranh giới của khoa học thực nghiệm. Các dữ liệu về ức chế xơ vữa hay kháng khuẩn từ lá sao nhái hồng phần lớn mới dừng lại ở thử nghiệm trong ống nghiệm (in vitro), trên mẫu tế bào vi khuẩn như tụ cầu vàng (S. aureus), trực khuẩn lỵ (E. coli) hoặc mô hình phân đoạn hóa học [2, 3]. Hiện tại chưa có đủ thử nghiệm lâm sàng dài hạn, ngẫu nhiên có đối chứng trên cơ thể người bệnh để xác nhận loại rau này có thể thay thế thuốc điều trị tim mạch hay hạ áp [3].

Bên cạnh đó, việc điều chế các hoạt chất trong phòng thí nghiệm thường dùng sóng siêu âm tối ưu hóa ở 30 phút, tỷ lệ dung môi 1:28 g/mL hoặc sấy cưỡng bức ở nhiệt độ kiểm soát từ 43,12 đến 44,5 độ C trong hơn 4 giờ [1, 3]. Điều này khác xa với quá trình tiêu hóa và chế biến thức ăn thực tế trong gia đình [6]. Do đó, chúng ta không thể đồng nhất việc ăn một đĩa rau tươi với việc sử dụng các chế phẩm dịch chiết đậm đặc đã qua tinh chế [4].

Những hiểu lầm thường gặp

Một hiểu lầm phổ biến là cho rằng dùng nồng độ thảo mộc càng đậm đặc thì hiệu quả bảo vệ mạch máu càng cao [4]. Trên thực tế, nghiên cứu năm 2017 đã chỉ ra rằng khi tăng nồng độ chiết xuất sao nhái hồng lên mức cao, hiện tượng thúc đẩy tế bào cơ trơn mạch máu di chuyển và xâm lấn lại diễn ra [4]. Chỉ có nồng độ trung bình và vừa phải mới mang lại chỉ số ức chế tốt nhất [4]. Do đó, việc lạm dụng quá mức dịch ép hay chiết xuất đậm đặc chưa chắc đã đem lại lợi ích cho thành mạch [4].

Một ngộ nhận khác là đánh đồng loài sao nhái hồng (Cosmos caudatus) với hoa cánh bướm vàng cam (Cosmos sulphureus). Dù cùng thuộc một chi, Cosmos sulphureus chủ yếu được nghiên cứu ứng dụng chiết xuất hoa làm màng bọc bảo quản thực phẩm để chống ôi hóa chất béo thay thế chất BHT [7]. Người tiêu dùng không nên tùy tiện sử dụng các giống sao nhái làm cảnh không rõ nguồn gốc để làm thực phẩm tươi sống [7].

Ai nên thận trọng khi sử dụng?

Người có tiền sử huyết áp thấp cần lưu ý khi bổ sung loại rau này với lượng lớn vào bữa ăn thường nhật [3]. Các ghi chép y học dân gian tại Đông Indonesia cùng các phân tích dược lý cho thấy lá sao nhái có hoạt tính lợi tiểu qua việc tăng thải trừ natri, đồng thời có tiềm năng làm giảm cung lượng tim, từ đó dẫn tới hạ huyết áp [3]. Nếu dùng chung với thuốc điều trị hạ huyết áp kê đơn, người bệnh có thể đối mặt với nguy cơ tụt huyết áp quá mức [3].

Bệnh nhân đái tháo đường đang dùng thuốc kiểm soát đường huyết cũng cần theo dõi chỉ số máu chặt chẽ nếu thường xuyên ăn rau này [3]. Do thảo mộc có tác động ức chế enzyme tiêu hóa đường alpha-glucosidase, việc phối hợp không kiểm soát với thuốc hạ đường có thể làm thay đổi đáp ứng điều trị [3]. Riêng phụ nữ mang thai, phụ nữ cho con bú và trẻ nhỏ hiện chưa có nghiên cứu an toàn chuyên biệt; các dữ liệu hiện tại chỉ mới dừng lại ở mô hình tế bào và người trưởng thành khỏe mạnh [2, 8]. Nhóm đối tượng này cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng như một vị thuốc [3].

Cách ứng dụng trong thực đơn hàng ngày

Tại các quốc gia như Malaysia và Indonesia, người dân có thói quen ăn đọt non và lá sao nhái hồng ở dạng tươi sống như một loại rau ăn kèm trong bữa cơm (ulam) [1]. Việc ăn sống giúp giữ lại trọn vẹn các thành phần mẫn cảm với nhiệt lượng cao [6]. Nếu sấy khô làm trà, nhiệt độ xử lý lý tưởng trong phòng thí nghiệm được khuyến cáo dao động quanh ngưỡng 43,1 - 44,5 độ C trong khoảng 4 giờ để hạn chế thất thoát polyphenol [6].

Người dùng nên chọn các đọt non được thu hoạch ở độ tuổi khoảng 8 tuần, tốt nhất là vào mùa khô ráo vì đây là giai đoạn cây tích tụ hàm lượng polyphenol và năng lực chống oxy hóa tối ưu nhất [2]. Trước khi ăn sống, cần ngâm rửa rau thật kỹ bằng nước sạch để loại bỏ bụi bẩn và nguy cơ nhiễm khuẩn bề mặt [1]. Duy trì sử dụng sao nhái hồng với lượng vừa phải, đan xen cùng các loại rau ăn lá phong phú khác sẽ giúp đa dạng hóa nguồn chất xơ và chất chống oxy hóa tự nhiên mà không gây mất cân bằng dinh dưỡng [6, 8].

Sao nhái hồng là một loại rau ăn lá giàu hoạt chất sinh học với hàm lượng polyphenol và các dẫn xuất quercetin ấn tượng [4, 6]. Tuy nhiên, loại thảo mộc này chỉ nên được xem là nguồn bổ sung dinh dưỡng thực vật hỗ trợ trong chế độ ăn cân bằng [3, 8]. Người có bệnh nền mạn tính tuyệt đối không tự ý ngưng thuốc điều trị để dùng thảo dược và cần trao đổi với bác sĩ chuyên khoa trước khi áp dụng lâu dài [3].