Khoáng vật cổ truyền và thảm họa ngộ độc kim loại

Trong dân gian, nhiều người vẫn tin dùng các bài thuốc cổ truyền hoặc khoáng vật tự nhiên để trị bệnh da liễu, mụn nhọt hay bồi bổ cơ thể [1, 2]. Mật đà tăng (còn được biết đến trong nhóm khoáng vật chì như hồng đơn) là một dược liệu Đông y có nguồn gốc từ khoáng chất chứa hàm lượng chì cực cao [1].

Y học hiện đại cấm tuyệt đối hành vi uống mật đà tăng và các chế phẩm chứa khoáng vật chì. Nguyên nhân cốt lõi là việc đưa trực tiếp dạng khoáng vật này vào cơ thể qua đường tiêu hóa gây ngộ độc chì cấp tính và mạn tính, tàn phá nghiêm trọng các cơ quan nội tạng, đặc biệt là hệ thần kinh, hệ tiêu hóa và thận.

Bản chất hóa học và con đường xâm nhập vào cơ thể

Mật đà tăng và các khoáng chất tương tự (như hồng đơn) chủ yếu cấu tạo từ hợp chất của chì, điển hình là chì tetraoxit ($Pb_3O_4$) hoặc chì oxit [1]. Trong các phân tích mẫu khoáng vật cổ truyền, hàm lượng chì có thể lên tới 214.000 mg/kg hoặc thậm chí trung bình đạt mức 817.000 mg/kg [1]. Khi nuốt phải, các ion chì hóa trị hai ($Pb^{2+}$) được hấp thu trực tiếp qua niêm mạc đường tiêu hóa [2].

Cơ chế hấp thu của chì cạnh tranh trực tiếp với các vi chất thiết yếu khác. Cụ thể, sắt, kẽm, canxi và chì đều là các ion kim loại hóa trị hai, cùng chia sẻ chung con đường chuyển hóa và hấp thu tại ruột non [2]. Khi khẩu phần ăn thiếu hụt canxi, sắt hoặc kẽm, lượng chì hấp thu vào máu sẽ gia tăng mạnh mẽ [2]. Sau khi vào máu, chì tuần hoàn và phân phối, tích tụ sâu trong các mô mềm và xương, gây nhiễm độc toàn thân kéo dài [3].

Cơn đau bụng chì: Tác động tàn phá lên đường tiêu hóa

Độc tính đường tiêu hóa là biểu hiện lâm sàng kinh điển nhất khi dung nạp các chế phẩm cổ truyền chứa chì. Bệnh nhân thường xuất hiện triệu chứng đau quặn bụng dữ dội quanh rốn kèm theo táo bón kéo dài [1, 2].

Chì phá vỡ cấu trúc thần kinh tự chủ của cơ trơn thành ruột và ức chế các enzym tiêu hóa, gây ra hiện tượng co thắt cục bộ dữ dội. Do các triệu chứng này rất dễ nhầm lẫn với các bệnh lý ngoại khoa cấp tính như viêm ruột thừa, sỏi mật hay tắc ruột, việc chẩn đoán thường bị trì hoãn nếu bác sĩ không khai thác kỹ tiền sử dùng thuốc [1, 6]. Ngoài các cơn co thắt quanh rốn, người bệnh còn gặp phải tình trạng chán ăn, sụt cân, buồn nôn và nôn mửa nghiêm trọng [4].

Tổn thương thần kinh và ức chế tủy xương

Không chỉ dừng lại ở đường ruột, chì là chất độc thần kinh cực mạnh. Khi tích tụ trong các mô, chì làm tổn thương hệ thống thần kinh ngoại biên, dẫn đến các biến chứng như đau đầu, chóng mặt, yếu cơ, teo cơ và bệnh lý thần kinh ngoại biên kéo dài nhiều năm không hồi phục hoàn toàn [4].

Trên hệ tạo máu, chì ức chế quá trình tổng hợp hemoglobin của hồng cầu. Dữ liệu y khoa chỉ ra rằng nồng độ chì trong máu tăng cao trực tiếp phá vỡ tế bào máu, gây thiếu máu rõ rệt và xuất hiện hình ảnh hồng cầu đốm kiềm (basophilic stippling) trên tiêu bản tủy xương hoặc máu ngoại vi [1, 6]. Người bệnh đồng thời có thể bị tổn thương gan phối hợp biểu hiện qua các xét nghiệm men gan bất thường [5].

Bằng chứng từ các báo cáo ca bệnh lâm sàng

Các y văn quốc tế đã ghi nhận hàng loạt trường hợp ngộ độc chì nghiêm trọng liên quan đến việc dùng thuốc cổ truyền chứa khoáng vật chì:

Một báo cáo năm 2022 mô tả nam bệnh nhân 21 tuổi uống thuốc cổ truyền để trị mụn trứng cá trong suốt một năm [5]. Bệnh nhân nhập viện vì đau quặn bụng quanh rốn dữ dội [5]. Kết quả xét nghiệm cho thấy nồng độ chì trong máu lên tới 1.268,4 mcg/L, kèm theo thiếu máu, tổn thương gan và hồng cầu đốm kiềm trong tủy xương [5]. Bệnh nhân được điều trị thải chì và hồi phục sau đó [5].

Một nghiên cứu năm 2017 báo cáo trường hợp người đàn ông 66 tuổi tự sắc thuốc cổ truyền uống trong 8 tháng và nhập viện vì đau quanh rốn kèm táo bón [6]. Nồng độ chì trong máu của ông đạt 657 mcg/L, trong khi người vợ dù không có triệu chứng lâm sàng cũng có nồng độ chì máu ở mức 488 mcg/L do cùng tiếp xúc [6]. Phân tích hóa học bài thuốc cho thấy hàm lượng chì vượt quá 4.000 mg/kg [6]. Bệnh nhân phải trải qua 3 đợt điều trị giải độc chì bằng liệu pháp tạo phức (chelation therapy) mới đưa được nồng độ chì về mức bình thường [6].

Một báo cáo năm 2002 ghi nhận 3 bệnh nhân bị ngộ độc chì sau khi uống viên hoàn cổ truyền Bảo Ninh Đan từ cùng một thầy thuốc [7]. Đáng lưu ý, mức độ nghiêm trọng trên lâm sàng không tương quan hoàn toàn với nồng độ chì trong máu [7]. Hai bệnh nhân cần can thiệp thải chì khẩn cấp, trong khi một bệnh nhân được theo dõi bảo tồn và các tổn thương cơ quan đích chỉ thuyên giảm dần dần [7].

Một nghiên cứu tổng quan hệ thống năm 2024 phân tích 210 ca bệnh từ 102 báo cáo ca và 30 loạt ca bệnh bị nhiễm độc kim loại do thuốc cổ truyền [3]. Kết quả chỉ ra chì và asen là hai nguồn gây độc phổ biến nhất, chủ yếu bắt nguồn từ các bài thuốc có xuất xứ châu Á [3]. Đánh giá cho thấy nam giới có độ nhạy cảm với ngộ độc kim loại cao hơn nữ giới [3]. Do tích tụ sâu trong xương và mô mềm, bệnh nhân cần được giám sát y tế lâu dài [3].

Một báo cáo năm 2013 ghi nhận bệnh nhân nam 75 tuổi dùng miếng dán thảo dược trị loét chân trong 3 tháng, dẫn đến nồng độ chì trong máu lên đến 226 mcg/dL (thuốc dán chứa 517 mg/g chì), biểu hiện chán ăn, sụt cân, nôn, táo bón, yếu cơ và thiếu máu [4]. Một bệnh nhân khác 51 tuổi dùng bột khoáng chất hồng đơn (chứa chì tetraoxit, asen, thủy ngân) qua đường hậu môn suốt 2 tuần đã bị hoại tử, sốt cao, thiếu máu, teo cơ và tổn thương thần kinh ngoại biên còn tồn tại dai dẳng sau 4 năm theo dõi [4].

Hiểu lầm thường gặp về khoáng chất cổ truyền

Hiểu lầm tai hại lớn nhất là quan niệm "dược liệu tự nhiên thì luôn an toàn và không có tác dụng phụ" [1, 6]. Nhiều người tin rằng các khoáng chất như mật đà tăng khi qua các khâu sao chế cổ truyền sẽ bị "khử độc", có thể uống trong để chữa mụn nhọt, bệnh tiêu hóa hay giải độc [1, 2].

Trên thực tế, chì là một nguyên tố kim loại bền vững, không bị phân hủy hay mất độc tính qua đun nấu thông thường [3, 7]. Bất kể dùng đường uống hay bôi ngoài da, chì đều có khả năng hấp thu vào tuần hoàn máu [3, 8]. Việc tự chế hoặc mua các loại bột, viên hoàn không rõ nguồn gốc từ các cơ sở chưa được kiểm định tiềm ẩn nguy cơ nhiễm độc kim loại nặng đe dọa trực tiếp tính mạng [2, 5].

Đối tượng cần đặc biệt thận trọng

Trẻ em là đối tượng tổn thương nặng nề nhất trước phơi nhiễm chì. Phân tích lâm sàng khẳng định trẻ em có độ nhạy cảm với độc tính kim loại cao hơn người trưởng thành [3]. Đối với trẻ em, hoàn toàn không có ngưỡng nồng độ chì an toàn trong máu [8].

Nghiên cứu năm 2012 tại Trung Quốc ghi nhận hai trẻ nhỏ (3 tuổi có nồng độ chì máu 303 mcg/L và bé gái 6 tháng tuổi có mức 385 mcg/L) bị ngộ độc nặng do gia đình dùng bột khoáng chất hồng đơn pha phấn rôm bôi ngoài da trị rôm sảy [1]. Mẫu bột này chứa tới 214.000 mg/kg chì [1].

Một ca bệnh năm 2023 báo cáo trẻ sơ sinh 6 tháng tuổi bị ngộ độc chì gián tiếp do người mẹ dùng phấn thuốc cổ truyền Hổ Vương Phấn (Hu Wang Fen) bôi ngoài da (mẹ có nồng độ chì 77,0 mcg/L, bố 36,9 mcg/L), khiến trẻ phải nhập viện điều trị thải độc bằng thuốc chelation [8].

Chưa có nghiên cứu chứng minh độ an toàn của mật đà tăng trên phụ nữ mang thai và phụ nữ cho con bú. Tuy nhiên, các dữ liệu hiện có cho thấy kim loại chì phơi nhiễm từ mẹ có thể gây ảnh hưởng nguy hại cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ [8].

Nhận biết nguy cơ và khuyến cáo y tế

Các nguồn phơi nhiễm chì trong đời sống rất đa dạng. Ngoài các bài thuốc và khoáng vật cổ truyền, chì còn xuất phát từ bắp rang bơ chế biến bằng máy truyền thống dùng gioăng chì, sơn tường, đồ chơi trẻ em, bụi công nghiệp từ nhà máy luyện kim, pin hoặc khói thuốc lá [2].

Người dân tuyệt đối không tự ý mua, sắc uống hoặc bôi đắp các loại khoáng thạch, bột lạ như mật đà tăng, hồng đơn [2, 3]. Để giảm thiểu hấp thu kim loại nặng thụ động từ môi trường, cần duy trì chế độ dinh dưỡng đầy đủ các khoáng chất vi lượng như sắt, kẽm và canxi [2]. Hướng dẫn trẻ nhỏ rửa tay sạch trước khi ăn nhằm loại bỏ bụi kim loại bám dính [2].

Nếu đã từng sử dụng thuốc gia truyền không rõ nguồn gốc và xuất hiện các cơn đau bụng không rõ nguyên nhân, thiếu máu, cơ thể suy kiệt, cần đến ngay các bệnh viện có chuyên khoa chống độc để làm xét nghiệm định lượng chì máu và can thiệp kịp thời [1, 2].

Y học hiện đại cấm chỉ định uống mật đà tăng vì đây là khoáng vật chứa hàm lượng chì cực độc, gây tổn thương đa cơ quan khó hồi phục. Mọi can thiệp điều trị ngộ độc kim loại đều cần phác đồ y khoa chuyên sâu bằng liệu pháp thải chì dưới sự giám sát chặt chẽ của bác sĩ chuyên khoa [1, 2].