Lời đồn thổi về thảo dược trị bách bệnh

Thời gian gần đây, thạch hộc (đặc biệt là các giống lan hoàng thảo thuộc chi Dendrobium, dân gian hay gọi thạch hộc tuyết mai) được nhiều người săn lùng [3, 4]. Trên các hội nhóm mạng xã hội, thảo dược này được đồn thổi như "thần dược" có khả năng tiêu diệt tế bào ác tính và chữa khỏi bệnh ung thư.

Sự thật khoa học không thần kỳ như quảng cáo [2, 7]. Nghiên cứu chỉ ghi nhận hoạt tính ức chế và gây độc tế bào ung thư trong mô hình ống nghiệm hoặc trên động vật thí nghiệm [1, 3]. Chưa có bất kỳ thử nghiệm lâm sàng nào khẳng định loài cây này có thể chữa khỏi ung thư ở người [2, 3].

Cơ chế tác động sinh học trong phòng thí nghiệm

Nhiều hợp chất hóa học thuộc nhóm stilbene, phenanthrene, bibenzyl và phenanthrenequinone đã được phân lập từ các loài phong lan chi thạch hộc [1, 2, 5, 6]. Các chất này kích hoạt quá trình tự hủy tế bào (apoptosis) thông qua các con đường truyền tín hiệu sinh học [1, 5, 6].

Khi tiếp xúc trực tiếp, hoạt chất làm ngưng chu kỳ phát triển của tế bào ác tính ở pha G0/G1 hoặc G2/M [2, 3, 5]. Đồng thời, các phân tử này hỗ trợ giảm biểu hiện của protein chống chết tế bào như Bcl-2 và kích hoạt enzym caspase-3 [1, 5, 6]. Một số chất còn can thiệp vào protein p53 hoặc giảm chuyển động tế bào nhằm cản trở xâm lấn [2, 4, 6].

Các bằng chứng từ nghiên cứu thực nghiệm

Năm 2014, một nghiên cứu đánh giá chiết xuất ethanol từ cây Dendrobium formosum trên dòng tế bào u lympho tế bào T của chuột (Dalton's lymphoma) [1]. Trong ống nghiệm, giá trị nồng độ ức chế 50% (IC50) đo bằng thử nghiệm MTT đạt mức 350 microg/mL [1]. Kính hiển vi huỳnh quang ghi nhận tế bào tự hủy theo liều lượng và thời gian thông qua sự phân mảnh ADN [1]. Khi thử nghiệm trên chuột mang khối u lympho Dalton, chiết xuất giúp kéo dài thời gian sống của chuột so với đối chứng, nhưng nghiên cứu này chưa phân lập chi tiết từng đơn chất [1].

Năm 2015, nghiên cứu trên cây Dendrobium brymerianum đã phân lập được 8 hợp chất phenolic từ chiết xuất methanol [2]. Kết quả thử nghiệm trên dòng tế bào ung thư phổi ở người cho thấy các chất moscatilin, gigantol, lusianthridin và dendroflorin có giá trị IC50 lần lượt là 196,7; 23,4; 65,0 và 125,8 microg/mL [2]. Ở nồng độ không gây độc, các hợp chất này thể hiện tính chất ức chế sự di chuyển của tế bào ung thư phổi [2].

Năm 2017, báo cáo tổng quan về chiết xuất từ Dendrobium moniliforme phân tích hợp chất denbinobin [3]. Hoạt chất này ức chế tế bào ung thư bạch cầu K562 với IC50 đạt 1,84 microM, làm tế bào tích tụ ở pha G2/M và giảm biểu hiện Bcr-Abl [3]. Trên tế bào ung thư dạ dày người SNU-484 và ung thư cổ tử cung HeLa, denbinobin đạt IC50 lần lượt là 7,9 và 22,3 microM [3]. Khi thử trên tế bào u nguyên bào đệm người (GBM), nồng độ 1 microM và 3 microM làm giảm khả năng sống của tế bào lần lượt 34,1% +- 3,7% và 62,7% +- 2,8% [3].

Năm 2018, một nghiên cứu thử nghiệm hợp chất bibenzyl TDB (4,5,4'-trihydroxy-3,3'-dimethoxybibenzyl) chiết xuất từ cây Dendrobium ellipsophyllum [4]. Trên các dòng tế bào ung thư phổi H460, H292 và H23, giá trị IC50 lần lượt ghi nhận khoảng 100 +- 5,18; 100 +- 8,73 và 188,89 +- 8,30 microM [4]. Trong khi đó, TDB thể hiện độc tính chọn lọc thấp đối với tế bào nhú bì người (DPC) với IC50 vượt trên 300 microM [4]. Xử lý nồng độ 50 microM TDB trong 24 giờ thúc đẩy apoptosis qua cơ chế tăng sinh protein p53 và Bax, ức chế tín hiệu Akt [4].

Năm 2019, các nhà khoa học thử nghiệm chiết xuất từ thân cây Dendrobium crepidatum [5]. Chiết xuất ethanol và axeton cho khả năng dọn gốc tự do DPPH đạt 94,69% +- 0,10% và 93,41% +- 0,86%, với IC50 lần lượt 73,90 microg/mL và 99,44 microg/mL [5]. Ở nồng độ 800 microg/mL, chiết xuất chloroform ức chế 81,49% +- 0,43% tế bào HeLa, còn chiết xuất hexane ức chế 76,45% +- 4,26% tế bào u nguyên bào đệm U251 [5]. Tuy nhiên, giá trị IC50 của các dịch chiết thô này đòi hỏi nồng độ rất cao, khác biệt đáng kể so với thuốc hóa trị chuẩn cisplatin [5].

Năm 2020, nghiên cứu thành phần hóa thực vật ghi nhận chiết xuất Dendrobium transparens chứa 27 hợp chất, trong đó 10-octadecenoic acid methyl ester chiếm 34,32% và 14-methyl-pentadecanoic acid methyl ester chiếm 12,86% [6]. Loài Dendrobium nobile được ghi nhận gây độc trên dòng tế bào biểu mô phổi, ung thư buồng trứng và ung thư bạch cầu thể tiền tủy bào ở người [6]. Các loài thạch hộc khác như D. longicornu, D. amoenum, D. crepidatum và D. moniliforme cũng thể hiện độc tính tế bào đối với HeLa và U251 trong ống nghiệm [6].

Năm 2022, nghiên cứu tổng quan của Liu và các cộng sự cho thấy chiết xuất ethyl acetate từ lan Pleione bulbocodiodes ức chế tế bào ung thư biểu mô tuyến phổi LA795 ở chuột [7]. Các chiết xuất lan khác tác động lên tế bào ung thư vú MCF-7, gan BGC-823 hay đại trực tràng HepG2 [7]. Hoạt chất nudol từ Dendrobium nobile làm ngưng chu kỳ tế bào u xương U2OS, còn cypripedin từ Dendrobium densiflorum kích hoạt caspase-3 chống ung thư phổi [7].

Gần đây vào năm 2023, 12 hợp chất phenanthrene được tinh sạch từ Dendrobium officinale (thạch hộc thiết bì) [8]. Hợp chất số 5 (1,5,6-trimethoxy-2,7-dihydroxyphenanthrene) cho kết quả ức chế tế bào ung thư cổ tử cung HeLa và tế bào Hep G2 với IC50 lần lượt là 0,42 và 0,20 microM [8]. Trên dòng tế bào HeLa, chất này ức chế di chuyển, chặn pha G0/G1 và kích thích tự hủy tế bào phụ thuộc vào p53 [8].

Khoảng cách từ đĩa petri đến cơ thể người

Các dữ liệu nêu trên đều thu được từ tế bào nuôi cấy trong đĩa thí nghiệm hoặc thử nghiệm sơ bộ trên chuột mang khối u [2, 3]. Môi trường nuôi cấy nhân tạo cho phép hóa chất tiếp xúc trực tiếp ở nồng độ đậm đặc với tế bào ác tính [2, 6].

Khi đưa thảo dược thô vào cơ thể người qua đường tiêu hóa, mọi chuyện hoàn toàn khác biệt. Các hoạt chất phải trải qua chuyển hóa tại dạ dày, gan, ruột và chịu rào cản đào thải sinh học [3, 7]. Chưa có dữ liệu khoa học nào xác định tỷ lệ hấp thu hay nồng độ khả dụng sinh học trong máu người đạt tới mức ức chế khối u [2, 7].

Hiểu lầm thường gặp của người bệnh

Sai lầm phổ biến nhất là đánh đồng khái niệm "gây độc tế bào trong phòng thí nghiệm" với "khả năng chữa khỏi ung thư" [1, 2]. Rất nhiều chất có thể phá hủy tế bào trong đĩa thí nghiệm nhưng lại vô tác dụng hoặc gây độc chết người khi thử nghiệm trên cơ thể sống.

Nguy hiểm hơn, việc đun sắc thô thạch hộc tuyết mai không thể đem lại hàm lượng các phân tử tinh chế như trong nghiên cứu [2, 4]. Việc tự ý bỏ thuốc điều trị theo phác đồ y khoa để uống nước lá hay thảo dược có thể làm lỡ mất giai đoạn vàng kiểm soát bệnh [6, 7].

Nhóm đối tượng cần đặc biệt thận trọng

Hiện tại hoàn toàn chưa có nghiên cứu đánh giá độ an toàn hay hiệu quả của thạch hộc trên phụ nữ mang thai, bà mẹ đang cho con bú và trẻ nhỏ [2, 3]. Dữ liệu hiện có chủ yếu là thử nghiệm tiền lâm sàng trên các dòng tế bào và động vật [1, 3, 5].

Những bệnh nhân đang điều trị ung thư bằng hóa trị, xạ trị hoặc thuốc nhắm trúng đích không được tự ý dùng thêm thảo dược này [6, 7]. Các thành phần hóa thực vật phức tạp có thể gây tương tác thuốc nguy hiểm hoặc làm tăng gánh nặng đào thải lên gan và thận [3, 7].

Lời khuyên áp dụng thực tế

Thạch hộc hay thạch hộc tuyết mai chỉ nên xem là một loại thảo mộc dùng hỗ trợ bồi bổ sức khỏe theo y học cổ truyền khi có hướng dẫn của thầy thuốc [3, 4]. Người tiêu dùng không tự ý tìm kiếm, pha chế để mong triệt tiêu khối u [2, 7].

Bệnh nhân mắc các bệnh mạn tính hoặc ung thư cần tuân thủ tuyệt đối phác đồ điều trị của bác sĩ chuyên khoa [3, 6]. Trước khi dùng bất kỳ bài thuốc dân gian hoặc chế phẩm thảo dược nào, người bệnh phải thông báo và tham khảo ý kiến chuyên môn của bác sĩ điều trị để đảm bảo an toàn [3, 7].