Nhiều người mắc bệnh tiểu đường thường duy trì thói quen uống một cốc nước ép rau củ quả mỗi sáng vì tin rằng đây là cách nạp vitamin tự nhiên và thanh lọc cơ thể. Hành động loại bỏ bã xơ và chỉ giữ lại phần nước cốt vô tình biến một loại thực phẩm lành mạnh thành nguồn rủi ro cho đường huyết. Liệu người bệnh thực sự hấp thu chất xơ hay chỉ đang nạp một lượng lớn đường tự do vào máu?

Câu trả lời trực diện: khi ép lấy nước, người bệnh gần như loại bỏ phần lớn chất xơ quý giá và nhận lại dung dịch chứa đường tự do hấp thu nhanh [1, 3]. Quá trình này làm mất đi rào cản tự nhiên giúp làm chậm quá trình tiêu hóa [1]. Nước ép khiến đường glucose và fructose tự do đi thẳng vào máu nhanh hơn nhiều so với việc ăn nguyên quả [1, 3].

Cơ chế tác động: Sự biến mất của chất xơ và rủi ro từ đường tự do

Khi ăn rau củ hoặc trái cây nguyên phần, cấu trúc tế bào thực vật còn nguyên vẹn, cung cấp mạng lưới chất xơ giúp làm chậm tốc độ tiêu hóa ở dạ dày [1]. Khi đưa nguyên liệu vào máy ép, mạng lưới xơ này bị giữ lại ở phần bã và bị vứt bỏ [1, 3]. Dung dịch thu được chủ yếu gồm nước, vitamin, khoáng chất hòa tan và các phân tử đường tự do như fructose, glucose [1, 3].

Chất lỏng di chuyển qua dạ dày xuống ruột non với tốc độ nhanh hơn nhiều so với thức ăn dạng rắn [1]. Khi không còn chất xơ cản trở, các loại đường tự do thẩm thấu nhanh qua thành ruột vào hệ tuần hoàn [1, 3]. Hiện tượng này dẫn đến tình trạng tăng đột biến nồng độ glucose và insulin trong huyết thanh [1].

Mối liên quan giữa việc tiêu thụ nước ép và nguy cơ tiểu đường đến từ việc thiếu chất xơ, dạng lỏng dễ hấp thu và tải lượng đường cao [2]. Nạp một lượng đường lớn mà thiếu vắng các thành phần tự nhiên của trái cây nguyên bản kích thích sự phát triển của hội chứng kháng insulin [2]. Lượng fructose tự do khi đi vào cơ thể với tốc độ ồ ạt cũng góp phần gia tăng các biểu hiện của hội chứng kháng insulin [2].

Dữ liệu khoa học: Sự sụt giảm chất xơ thực tế đo lường ra sao?

Một nghiên cứu công bố năm 2013 dựa trên dữ liệu từ ba nghiên cứu đoàn hệ tiền cứu lớn đã phân tích sự khác biệt rõ rệt giữa trái cây nguyên bản và nước ép [1]. Dữ liệu cho thấy quá trình ép lấy nước làm giảm sút nghiêm trọng hàm lượng dinh dưỡng có lợi [1]. Chẳng hạn, một khẩu phần cam nguyên quả cung cấp 3,1 g chất xơ với tải lượng đường huyết (GL) là 6,2 [1]. Khi chuyển sang dạng nước ép cam, lượng chất xơ tụt xuống chỉ còn 0,5 g mỗi khẩu phần, trong khi tải lượng đường huyết tăng vọt lên mức 13,4 [1].

Sự sụt giảm hơn 80% lượng chất xơ đi kèm tải lượng đường huyết tăng hơn gấp đôi giải thích vì sao nước ép trái cây dẫn đến sự thay đổi nồng độ glucose và insulin trong huyết thanh lớn hơn và nhanh hơn nhiều so với quả nguyên vẹn [1]. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc đóng góp vào tải lượng đường huyết chung của trái cây tươi tương đối nhỏ, ví dụ chuối chiếm 3-4%, táo chiếm 2% và nho chiếm 1% [1]. Ngược lại, nước ép trái cây mang tải lượng đường huyết cao và có mối liên quan thuận với nguy cơ mắc đái tháo đường típ 2 [1].

Một nghiên cứu tiền cứu năm 2008 khảo sát lượng tiêu thụ trái cây, rau củ và nước ép đối với nguy cơ mắc tiểu đường ở phụ nữ [2]. Các tác giả nhận thấy việc tiêu thụ thường xuyên nước ép trái cây làm tăng tải lượng đường huyết khẩu phần ăn [2]. Trong nhóm thuần tập Nghiên cứu Sức khỏe Nữ y tá II theo dõi 91.249 phụ nữ trong 8 năm (1991-1999), những người uống ít nhất 1 khẩu phần đồ uống có đường mỗi ngày có nguy cơ mắc đái tháo đường típ 2 cao gấp 1,83 lần (khoảng tin cậy 95%: 1,42-2,36) so với người uống dưới một lần mỗi tháng [2]. Đáng chú ý, việc uống nước hoa quả cô đặc pha đường (fruit punches) cũng làm tăng nguy cơ tiểu đường với tỷ số nguy cơ đa biến là 2,00 [2].

Nguy cơ tiềm ẩn từ các nghiên cứu thai kỳ và dịch tễ học

Tác động bất lợi của nước ép cũng được ghi nhận trong các nghiên cứu về đái tháo đường thai kỳ (GDM). Một nghiên cứu quan sát năm 2021 tại Trung Quốc tiến hành trên 2.987 phụ nữ mang thai từ tuần thứ 13 đến tuần thứ 28 [3]. Kết quả ghi nhận có 405 phụ nữ (chiếm 13,6%) được chẩn đoán mắc GDM [3]. Phân tích số liệu cho thấy mức tiêu thụ nước ép trái cây, nho, dưa và khoai tây tỷ lệ thuận với tỷ lệ mắc GDM [3]. Ngược lại, việc ăn táo, cam và các loại rau không thuộc nhóm khoai tây cho thấy mối liên hệ nghịch với tỷ lệ mắc bệnh [3].

Một tổng quan hệ thống và phân tích gộp năm 2023 tập hợp 12 nghiên cứu đoàn hệ tiền cứu với 32.794 người tham gia cũng xem xét tác động này [4]. Phân tích chỉ ra rằng việc tăng tiêu thụ trái cây nguyên quả giúp giảm nguy cơ GDM (nguy cơ tương đối RR = 0,92; KTC 95%: 0,86-0,99), cụ thể mỗi 100 g trái cây ăn thêm mỗi ngày giúp giảm 3% nguy cơ mắc bệnh [4]. Việc tăng tiêu thụ rau củ nói chung (RR = 0,95; KTC 95%: 0,87-1,03), rau củ giàu tinh bột (RR = 1,01; KTC 95%: 0,82-1,26) hay nước ép trái cây (RR = 0,97; KTC 95%: 0,91-1,04) không mang lại hiệu quả giảm nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường thai kỳ [4].

Dù vậy, dữ liệu về nước ép không hoàn toàn tiêu cực ở mọi chỉ số. Một phân tích gộp năm 2014 gồm 12 thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng với tổng cộng 412 đối tượng đã đánh giá tác động của nước ép trái cây lên kiểm soát đường huyết và độ nhạy insulin [5]. Kết quả cho thấy nước ép trái cây không tạo ra thay đổi có ý nghĩa thống kê lên nồng độ glucose lúc đói (chênh lệch gộp 0,79 mg/dL; KTC 95%: -1,44 đến 3,02 mg/dL) và nồng độ insulin lúc đói (chênh lệch gộp -0,74 microIU/ml; KTC 95%: -2,62 đến 1,14 microIU/ml) [5]. Một nghiên cứu năm 2012 cũng lưu ý rằng nước ép chứa vitamin và khoáng chất có thể phần nào bù đắp tác hại của đường hấp thu nhanh nếu chỉ dùng ở mức độ khiêm tốn [6].

Nghiên cứu cắt ngang năm 2019 dựa trên dữ liệu Hệ thống Giám sát Yếu tố Nguy cơ Hành vi (BRFSS) năm 2017 tại Mỹ trên phụ nữ từ 45-64 tuổi (gồm 2.609 người ở Arizona, 3.768 ở Florida, 1.018 ở Georgia và 2.092 ở Texas) cho thấy tỷ lệ tiêu thụ rau quả hàng ngày ở người có và không có tiểu đường là tương đương nhau (khoảng 58%-68%), không có sự khác biệt sau khi hiệu chỉnh các biến số nhân khẩu học [7].

Đối với nước ép từ rau củ, một nghiên cứu trong phòng thí nghiệm năm 2014 đã kiểm tra 10 loại nước ép rau củ đối với con đường polyol – con đường sinh hóa kích hoạt tình trạng stress oxy hóa và gây biến chứng tiểu đường [8]. Nghiên cứu đo hoạt tính ức chế enzyme aldose reductase trên thủy tinh thể dê và sự tích tụ sorbitol trong hồng cầu người [8]. Kết quả cho thấy nước ép rau củ có tiềm năng ức chế hoạt tính aldose reductase và giảm tích tụ sorbitol, trong đó nước ép quả bình bát (ivy gourd), dưa leo xanh (green cucumber) và mướp khía (ridge gourd) thể hiện hoạt tính mạnh nhất [8].

Hiểu lầm thường gặp về nước ép rau củ quả

Nhiều người bệnh lầm tưởng rằng nước ép rau củ "nguyên chất 100%, không thêm đường" là thức uống an toàn tuyệt đối, có thể dùng thay nước lọc cả ngày. Thực tế, ngay cả khi không thêm đường mía, đường tự nhiên có sẵn trong nguyên liệu đã bị chuyển thành dạng đường tự do, thiếu sự kiểm soát của chất xơ [1, 3]. Việc uống một cốc nước ép tương đương với việc dung nạp đường của nhiều củ, quả cùng lúc chỉ trong vài phút [1, 3].

Một hiểu lầm khác là nước ép giữ lại trọn vẹn chất xơ hòa tan. Mặc dù một lượng rất nhỏ hợp chất có thể còn sót lại, quá trình lọc bã của máy ép cơ học đã tách bỏ hầu như toàn bộ chất xơ của thực phẩm (như trường hợp nước ép cam làm giảm lượng xơ từ 3,1 g xuống 0,5 g) [1]. Bã bị loại bỏ chính là thành phần then chốt giúp kiểm soát tốc độ tăng đường máu [1, 3]. Nước ép không thể thay thế cho việc ăn rau củ và trái cây tươi [1, 2, 7].

Đối tượng cần đặc biệt thận trọng

Người đã được chẩn đoán mắc đái tháo đường típ 2 hoặc tiền đái tháo đường cần hạn chế tối đa các loại nước ép từ trái cây ngọt hoặc củ quả chứa nhiều tinh bột [1, 3, 7]. Phụ nữ mang thai hoặc có nguy cơ đái tháo đường thai kỳ cần đặc biệt tránh thói quen uống nhiều nước ép trái cây để kiểm soát nguy cơ chuyển hóa [6, 7].

Người có chỉ số đường huyết không ổn định, thường xuyên bị tăng đường huyết sau ăn cũng không nên sử dụng nước ép dạng lỏng [1]. Bất kỳ ai đang dùng thuốc hạ đường huyết hoặc tiêm insulin cần trao đổi trực tiếp với bác sĩ điều trị hoặc chuyên gia dinh dưỡng trước khi thay đổi chế độ ăn uống, tránh nguy cơ dao động đường huyết thất thường.

Giải pháp sử dụng rau củ quả an toàn cho người tiểu đường

Để tận dụng tối đa lợi ích dinh dưỡng mà không làm bùng phát đường huyết, người bệnh tiểu đường nên tuân thủ các nguyên tắc ăn uống cân bằng:

  • Ưu tiên ăn nguyên quả, nguyên củ: Thay vì ép lấy nước, hãy nhai trực tiếp trái cây và rau tươi để giữ lại toàn bộ mạng lưới chất xơ tự nhiên, làm chậm tốc độ rỗng của dạ dày [1].
  • Lựa chọn nhóm rau củ phù hợp: Ưu tiên các loại rau lá xanh đậm và rau củ ít đường [1, 7]. Rau lá xanh cung cấp magie - vi chất có liên quan nghịch với sự phát triển của đái tháo đường típ 2 [2]. Tránh lạm dụng các loại củ giàu tinh bột như khoai tây [3].
  • Nếu muốn uống, hãy dùng nước ép rau củ không đường: Trường hợp muốn uống dạng nước, có thể chọn nước ép từ dưa leo hoặc các loại rau quả ít ngọt, không pha thêm nước ép trái cây chín ngọt [8].
  • Chia nhỏ khẩu phần: Không uống lượng lớn trong một lần. Nếu thèm trái cây ngọt, hãy ăn một lượng nhỏ sau bữa ăn chính kết hợp vận động nhẹ nhàng.

Thay đổi thói quen từ uống nước ép sang ăn rau củ quả nguyên bản là bước đi thiết thực để bảo vệ đường huyết. Hãy nhớ rằng không có loại nước ép thần kỳ nào có thể chữa khỏi bệnh tiểu đường hay thay thế lối sống lành mạnh. Hãy tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa để xây dựng thực đơn phù hợp nhất với thể trạng của bạn.