Nhiều người bệnh duy trì thói quen dùng thảo dược song song với thuốc tây mà không tham khảo ý kiến bác sĩ. Quan niệm nguồn gốc tự nhiên luôn lành tính khiến việc phối hợp điều trị tiềm ẩn nhiều rủi ro [1]. Tương tác thuốc - thảo dược qua hệ thống chuyển hóa tại gan là vấn đề cần được hiểu rõ để bảo vệ sức khỏe [2].

Dù có nhu cầu tìm hiểu về bạch tiền bì và hoạt chất fraxinellone, các dữ liệu khoa học thực nghiệm hiện tại trong bộ cơ sở dữ liệu đối chiếu tập trung làm rõ cơ chế tương tác tổng quát qua hệ thống enzyme Cytochrome P450 (CYP450) của các nhóm thảo dược và hợp chất tự nhiên [2, 6]. Việc nắm vững nguyên lý tác động của thảo dược lên men gan giúp phòng ngừa nguy cơ biến đổi nồng độ thuốc tân dược dùng kèm [5, 6].

Hệ thống CYP450 và cơ chế tương tác chuyển hóa

Gan là cơ quan chính đảm nhận vai trò chuyển hóa thuốc và đào thải độc chất ra khỏi cơ thể qua hệ thống enzyme CYP450 [2, 3]. Hầu hết các loại thuốc tân dược hiện nay đều chịu sự thoái giáng bởi một hoặc nhiều phân họ enzyme này trước khi bị tống xuất [3]. Khi các hợp chất có trong thảo dược làm thay đổi hoạt lực của CYP450, nồng độ thuốc trong máu sẽ biến động rõ rệt [3, 5].

Hiện tượng ức chế men gan xảy ra khi hoạt chất thảo dược cạnh tranh vị trí gắn kết hoặc làm suy giảm chức năng xúc tác của enzyme [2, 7]. Hậu quả trực tiếp là quá trình thanh thải tân dược bị đình trệ, khiến thuốc tích tụ kéo dài trong tuần hoàn và làm tăng độc tính điều trị [5, 6]. Ngược lại, nếu thảo dược gây cảm ứng men gan, enzyme sẽ hoạt động mạnh hơn bình thường, dẫn tới tốc độ đào thải thuốc tăng nhanh và làm mất hiệu lực chữa bệnh [4].

Dữ liệu từ các nghiên cứu thực nghiệm trên microsome gan

Các đánh giá thực nghiệm cung cấp bằng chứng rõ ràng về khả năng ức chế men CYP450 của nhiều hợp chất tự nhiên [5, 7]. Một thử nghiệm năm 2007 tiến hành trên microsome gan người đã kiểm tra tác động của dịch chiết hoàng liên Canada (goldenseal), bạch quả (Ginkgo biloba), hạt nho, kế sữa và nhân sâm đối với các phân họ enzyme CYP1A2, CYP2C8, CYP2C9, CYP2C19, CYP2D6, CYP2E1 và CYP3A4 cùng chất vận chuyển P-glycoprotein [5]. Kết quả ghi nhận dịch chiết hoàng liên ức chế từ 50% trở lên hoạt tính của CYP2C8, CYP2D6 và CYP3A4 ở nồng độ 20 microM [5]. Chiết xuất hạt nho ức chế CYP2C9 và CYP3A4 ở mức 10 microM, kế sữa ức chế CYP2C8 ở mức 10 microM, trong khi các ginsenoside F1 và Rh1 ức chế CYP3A4 ở mức 10 microM [5]. Dữ liệu thực nghiệm này xác nhận thảo dược trực tiếp làm giảm độ thanh thải của thuốc thông qua việc ức chế CYP450 thay vì cơ chế qua chất vận chuyển P-glycoprotein [5].

Một thử nghiệm in vitro công bố năm 2014 trên microsome gan người tiếp tục làm rõ tác động ức chế của polyphenol tự nhiên gồm acid caffeic và quercetin đối với hệ enzyme CYP450 [6]. Nghiên cứu xác định acid caffeic là chất ức chế cạnh tranh mạnh đối với CYP1A2 (chỉ số Ki = 1,16 microM), CYP2C9 (Ki = 0,95 microM) và CYP2D6 (Ki = 1,10 microM), nhưng ức chế yếu đối với CYP2C19 và CYP3A4 với IC50 lớn hơn 100 microM [6]. Ngược lại, quercetin ức chế cạnh tranh mạnh đối với CYP1A2 (Ki = 0,93 microM), CYP2C9 (Ki = 1,67 microM), CYP2C19 (Ki = 1,74 microM), CYP3A4 (Ki = 4,12 microM) và ức chế vừa phải CYP2D6 (Ki = 18,72 microM) [6]. Các số liệu định lượng này chứng minh hoạt chất từ thực vật có khả năng liên kết rất chặt vào vị trí hoạt động của enzyme chuyển hóa thuốc [2, 7].

Một nghiên cứu tổng quan công bố năm 2022 cũng xác nhận thymoquinone, quercetin, chiết xuất tỏi và chiết xuất cam thảo là những chất có khả năng ức chế các enzyme khác nhau thuộc họ CYP [3]. Báo cáo năm 2012 đánh giá ba dạng chiết xuất thương mại từ cây tầm gửi (Viscum album L.) trên các phân họ men gan gồm CYP1A2, 2A6, 2B6, 2C8, 2C9, 2C19, 2D6, 2E1 và 3A4 [7]. Thử nghiệm xác định chiết xuất tầm gửi trên cây tần bì (ash tree) có giá trị EC50 gây độc tế bào gan là 2,56 microg/mL, chiết xuất từ cây linh sam là 5,79 microg/mL và từ cây thông là 30,86 microg/mL [7]. Tuy nhiên, thử nghiệm ức chế trên microsome gan người và thử nghiệm cảm ứng trên tế bào gan từ 3 người hiến tặng cho thấy cả 3 loại chiết xuất tầm gửi đều không gây ức chế hoặc cảm ứng đáng kể, chứng minh tiềm năng tương tác thuốc qua CYP450 của loài này là không có hoặc rất thấp [7].

Đánh giá trên dữ liệu lâm sàng và khoảng trống bằng chứng

Một tổng quan hệ thống công bố năm 2010 tiến hành tra cứu cơ sở dữ liệu Pubmed và EMBASE từ khi thành lập đến tháng 3 năm 2009 nhằm thu thập các thử nghiệm lâm sàng trên người về tương tác thảo dược - thuốc tân dược [2]. Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh rằng các dữ liệu tiền lâm sàng từ ống nghiệm thường khó ngoại suy trực tiếp sang cơ thể người [2]. Báo cáo năm 2002 về bệnh nhân ung thư cũng chỉ ra rằng các cảnh báo tương tác thuốc - thảo dược qua hệ thống enzyme chuyển hóa phần lớn vẫn dừng lại ở mức độ lý thuyết [4].

Tuy vậy, các khảo sát quy mô lớn hơn đã phát hiện những tương tác thực tế [8]. Một nghiên cứu tổng quan năm 2021 tiến hành phân tích 140 thử nghiệm lâm sàng trong số 3.125 nghiên cứu cùng 236 nghiên cứu in vitro, mô hình động vật hoặc báo cáo ca bệnh trong số 3.374 tài liệu từ Web of Knowledge [8]. Các tác giả đã sàng lọc 189 loại thảo dược và thực phẩm cùng 72 thực phẩm bổ sung, từ đó xác nhận 18 thử nghiệm lâm sàng báo cáo tương tác trực tiếp giữa 9 loại thảo dược/thực phẩm với 8 loại thuốc điều trị ung thư [8]. Có 21 loại thảo dược/thực phẩm được xác định có tương tác với phân họ CYP3A4, vốn là con đường chuyển hóa chính của nhiều loại tân dược [8].

Hiểu lầm phổ biến khi dùng thảo dược

Sai lầm nghiêm trọng nhất là cho rằng mọi phương thuốc có nguồn gốc cây cỏ tự nhiên đều tuyệt đối an toàn và không gây hại cho cơ thể [1]. Nhiều người tự ý uống thảo dược cùng lúc với đơn thuốc tây y với niềm tin giúp bồi bổ cơ thể mà không lường trước nguy cơ tương tác dược động học [6, 8].

Một quan niệm sai lầm khác là thảo dược chỉ có tác dụng hỗ trợ nhẹ và không đủ mạnh để làm thay đổi nồng độ thuốc điều trị [5]. Các dữ liệu định lượng trên microsome gan cho thấy các hoạt chất tự nhiên hoàn toàn có khả năng ức chế trên 50% hoạt tính của các enzyme chủ chốt như CYP3A4, CYP2C9 hay CYP2D6 [5, 7]. Khi men gan bị ức chế, tốc độ thải trừ giảm sút rõ rệt, đẩy nồng độ thuốc trong máu lên ngưỡng độc tính [5, 6].

Những đối tượng cần đặc biệt thận trọng

Bệnh nhân đang sử dụng các loại thuốc có khoảng điều trị hẹp phải tuyệt đối cẩn trọng khi tiếp cận bất kỳ phương pháp thảo dược nào [2]. Với nhóm thuốc này, chỉ một biến động nhỏ về nồng độ trong huyết tương do ức chế men gan cũng đủ dẫn tới biến chứng nghiêm trọng hoặc đe dọa tính mạng [2].

Bệnh nhân điều trị ung thư bằng hóa trị liệu là nhóm đối tượng có nguy cơ cao nhất đối với các tương tác chuyển hóa [3, 4]. Vì hệ thống CYP3A4, CYP2D6, CYP1A2 và CYP2C8 tham gia xử lý trực tiếp nhiều phác đồ kháng ung thư, người bệnh cần trao đổi kỹ với bác sĩ điều trị và nên lựa chọn các giải pháp hỗ trợ khác đã được kiểm chứng thay vì tự ý dùng thảo mộc [3, 4]. Ngoài ra, sự đa hình di truyền của các enzyme CYP450 giữa các cá thể cũng làm tăng mức độ khó lường của các phản ứng tương tác [1].

Áp dụng an toàn trong đời sống

Để ngăn ngừa biến chứng do tương tác chuyển hóa thuốc tại gan, người bệnh cần tuân thủ các nguyên tắc y khoa sau:

  • Thông báo đầy đủ cho bác sĩ và dược sĩ điều trị về toàn bộ các loại thuốc đông y, thảo dược, trà thảo mộc hoặc thực phẩm bổ sung đang dùng kèm đơn thuốc tân dược [2].
  • Không tự ý kết hợp các bài thuốc y học cổ truyền khi đang sử dụng các thuốc tây y chuyển hóa chủ yếu qua gan mà chưa có đánh giá chuyên môn [6, 8].
  • Tuân thủ hướng dẫn dùng thuốc cách xa thời điểm uống các loại trà hoặc chế phẩm thảo mộc nếu được chỉ định, nhằm giảm thiểu tối đa sự tiếp xúc cạnh tranh tại biểu mô đường tiêu hóa và gan [2].
  • Theo dõi sát các triệu chứng bất thường của cơ thể như mệt mỏi quá mức, vàng da, buồn nôn hoặc các phản ứng phụ gia tăng của thuốc tây để đi khám kịp thời [1].

Việc kết hợp thảo dược với thuốc tân dược đòi hỏi sự cẩn trọng cao độ dựa trên bằng chứng y học chuẩn mực [2]. Nhận thức đúng về vai trò chuyển hóa của hệ thống CYP450 giúp người bệnh chủ động phòng tránh rủi ro ngộ độc thuốc [2, 5]. Luôn tham khảo ý kiến chuyên gia y tế trước khi bổ sung bất kỳ vị thảo mộc nào vào quá trình điều trị để bảo đảm an toàn tính mạng [3, 6].