Nhiều người có thói quen bắt đầu buổi sáng bằng một ly cà phê đậm đặc ngay trước bữa điểm tâm nhằm tìm kiếm sự tỉnh táo. Tuy nhiên, không ít người thắc mắc liệu việc đưa một lượng caffeine vào cơ thể có gây rối loạn đường huyết hoặc làm giảm độ nhạy insulin hay không. Đây là mối quan tâm hoàn toàn có cơ sở khoa học đối với những ai đang theo dõi chỉ số đường huyết hàng ngày.

Câu trả lời ngắn gọn là có: việc uống cà phê chứa caffeine tạo ra tình trạng suy giảm độ nhạy insulin và dung nạp glucose trong ngắn hạn. Nguyên nhân sinh học chính bắt nguồn từ tác động kích thích của caffeine lên hệ thần kinh, thúc đẩy giải phóng hormone epinephrine (adrenaline) và cạnh tranh thụ thể adenosine [1]. Tuy nhiên, phản ứng cấp tính này mang tính tạm thời và hoàn toàn trái ngược với xu hướng cải thiện chuyển hóa khi xét trên phương diện tiêu thụ dài hạn [1, 2, 3].

Cơ chế khiến cà phê gây kháng insulin cấp tính

Để hiểu rõ hiện tượng này, cần xem xét cách thức caffeine tương tác với các tuyến nội tiết và thụ thể tế bào. Caffeine khi đi vào tuần hoàn có khả năng vượt qua hàng rào máu não và kích hoạt hệ thần kinh giao cảm giải phóng hormone adrenaline vào huyết tương [2, 7]. Sự gia tăng adrenaline kích thích phân giải lipid làm tăng nồng độ axit béo tự do (NEFA) trong máu, đồng thời cản trở trực tiếp con đường thu nhận glucose tại mô cơ [2].

Bên cạnh đó, caffeine hoạt động như một chất đối kháng cạnh tranh tại các thụ thể adenosine [1]. Bình thường, adenosine hỗ trợ quá trình hấp thu glucose và duy trì độ nhạy của tế bào đối với hormone insulin. Khi adenosine bị phong tỏa, các tế bào giảm phản ứng trước tín hiệu nội tiết, dẫn đến tình trạng suy giảm độ nhạy insulin và giảm khả năng dung nạp glucose tạm thời [1].

Bằng chứng dung nạp glucose trên người khỏe mạnh

Các thử nghiệm can thiệp cấp tính sử dụng nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống (OGTT) đã cung cấp dữ liệu rõ ràng về hiệu ứng này. Một nghiên cứu công bố năm 2008 tiến hành trên 10 nam giới khỏe mạnh được cho uống cà phê chứa caffeine (liều 5 mg caffeine/kg thể trọng) hoặc cà phê khử caffeine (decaf), theo sau 1 giờ bởi bữa ăn chứa 75 g carbohydrate có chỉ số đường huyết (GI) cao hoặc thấp [3]. Kết quả cho thấy khi dùng cà phê chứa caffeine cùng bữa ăn GI cao, diện tích dưới đường cong (AUC) của glucose tăng 147% và C-peptide tăng 40% (p < 0,001), khiến chỉ số nhạy insulin giảm 40% so với dùng cà phê decaf [3]. Khi kết hợp với bữa ăn GI thấp, diện tích dưới đường cong của glucose tăng 216% (p < 0,001), insulin tăng 44% (p < 0,01) và độ nhạy insulin giảm 29% [3].

Nghiên cứu khác năm 2010 thực hiện trên 10 nam thanh niên khỏe mạnh để đánh giá sự chuyển hóa carbohydrate kế tiếp [4]. Tình nguyện viên dùng bữa sáng giàu bột đường kèm cà phê chứa caffeine (5 mg/kg), cà phê decaf hoặc nước lọc, rồi 3 giờ sau thực hiện nghiệm pháp OGTT 75 g [4]. Kết quả cho thấy sau lần nạp carbohydrate thứ hai, diện tích dưới đường cong insulin ở nhóm cà phê chứa caffeine cao hơn 49% so với nhóm decaf và 57% so với nhóm nước lọc (p < 0,01) [4]. Diện tích dưới đường cong glucose của nhóm cà phê chứa caffeine đạt 217 mmol/l x 2 h, cao hơn mức 126 mmol/l x 2 h của decaf và 55 mmol/l x 2 h của nước lọc (p < 0,001), đồng thời chỉ số nhạy insulin đạt 8,2, thấp hơn đáng kể mức 12,4 của decaf và 13,4 của nước lọc [4]. Điều này chứng minh tác động làm giảm nhạy insulin của một ly cà phê buổi sáng có thể kéo dài sang tận bữa ăn tiếp theo [4].

Tác động trên người mắc đái tháo đường và thai phụ

Mức độ suy giảm nhạy insulin cấp tính còn ghi nhận rõ rệt hơn ở những nhóm đối tượng có sẵn rối loạn chuyển hóa glucose. Một nghiên cứu năm 2004 tiến hành thử nghiệm chéo, mù đôi trên 12 nam giới béo phì mắc đái tháo đường típ 2 (độ tuổi 49 ± 2, BMI 32 ± 1 kg/m²) [5]. Các đối tượng nhịn ăn qua đêm, ngừng dùng thuốc hạ đường huyết, caffeine và tập luyện trong 48 giờ, sau đó uống viên nang caffeine (5 mg/kg) hoặc giả dược trước khi làm nghiệm pháp OGTT 75 g kéo dài 3 giờ [5]. Sau khi nạp caffeine, diện tích dưới đường cong insulin tăng 25% (p < 0,05), nồng độ glucose máu sau 3 giờ vẫn duy trì ở mức cao 8,9 ± 0,7 mmol/L so với 6,7 ± 0,4 mmol/L ở nhóm chứng (p < 0,01), và chỉ số nhạy insulin giảm 14% (p = 0,02) [5].

Đối với thai phụ, một nghiên cứu năm 2009 thực hiện trên 19 phụ nữ có kết quả sàng lọc đái tháo đường thai kỳ (GDM) âm tính và 8 phụ nữ có kết quả sàng lọc ban đầu dương tính với GDM thông qua thiết kế chéo ngẫu nhiên mù đôi [6]. Các đối tượng uống caffeine (3 mg/kg thể trọng trước mang thai) hoặc viên giả dược gelatin 1 giờ trước khi làm nghiệm pháp OGTT 75 g [6]. Ở nhóm phụ nữ không mắc bệnh, caffeine không làm thay đổi đáng kể glucose máu, insulin hay C-peptide [6]. Ngược lại, ở nhóm thai phụ dương tính với GDM, nạp caffeine khiến diện tích dưới đường cong glucose tăng (p < 0,01), diện tích C-peptide tăng (p < 0,05) và chỉ số nhạy insulin sụt giảm 18% (p < 0,05) [6].

Nghịch lý giữa tác động ngắn hạn và bảo vệ dài hạn

Dù các can thiệp ngắn hạn liên tục ghi nhận sự suy giảm độ nhạy insulin, các dữ liệu dịch tễ học quy mô lớn lại chỉ ra xu hướng tiêu thụ cà phê tỷ lệ nghịch với nguy cơ mắc bệnh chuyển hóa [1, 2, 3]. Tổng hợp nghiên cứu ghi nhận những người uống từ 6 tách cà phê trở lên mỗi ngày giảm ít nhất 50% nguy cơ tiến triển thành đái tháo đường típ 2 so với người uống từ 2 tách trở xuống sau khi đã hiệu chỉnh các yếu tố gây nhiễu về lối sống [7]. Nghiên cứu cắt ngang trên 954 người trưởng thành thuộc nghiên cứu IRAS năm 2011 cũng chỉ ra thói quen uống cà phê chứa caffeine liên quan thuận với độ nhạy insulin (beta = 0,054; p = 0,04) và liên quan nghịch với nồng độ glucose 2 giờ sau nghiệm pháp nạp đường (beta = -0,37; p = 0,0003) [8]. Đồng thời, cà phê decaf cũng liên quan nghịch với glucose 2 giờ sau nạp (beta = -0,47; p = 0,0096) và liên quan thuận với phản ứng insulin cấp tính (beta = 0,191; p = 0,0132) [8].

Nghịch lý này được giải thích bởi hiện tượng thích nghi sinh học và sự hiện diện của các hoạt chất thực vật khác trong hạt cà phê. Một thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng năm 2011 ghi nhận những tác động bất lợi cấp tính của cà phê chứa caffeine lên độ nhạy insulin và dung nạp glucose không còn tồn tại sau 8 tuần duy trì thói quen tiêu thụ [1]. Hạt cà phê chứa lượng dồi dào axit chlorogenic và trigonelline, hai hợp chất này trong thử nghiệm ngẫu nhiên trên nam giới khỏe mạnh đã cho thấy khả năng làm giảm cấp tính nồng độ glucose và insulin ở thời điểm 15 phút sau nghiệm pháp OGTT nhờ cải thiện stress oxy hóa, ức chế tân tạo đường và tác động lên vi sinh vật đường ruột [1].

Quá trình thích nghi diễn ra như thế nào?

Sự suy giảm đáp ứng bất lợi của caffeine được thể hiện rõ qua các giai đoạn tiêu thụ liên tục. Một nghiên cứu năm 2007 khảo sát 12 nam thanh niên trước đó chưa từng tiêu thụ caffeine qua 4 lần làm nghiệm pháp OGTT trong vòng 4 tuần [2]. Tình nguyện viên dùng giả dược gelatin ngày đầu, sau đó dùng liều 5 mg caffeine/kg vào các ngày 0, 7 và 14 trước khi làm OGTT 2 giờ, đồng thời duy trì uống 6 liều 5 mg/kg mỗi ngày giữa các đợt kiểm tra [2]. Vào ngày 0, diện tích dưới đường cong insulin và glucose tăng vọt lần lượt 36% và 103% so với giả dược (p < 0,05), nhưng đến ngày thứ 7 đã không còn khác biệt đáng kể so với giả dược [2].

Đến ngày 14, diện tích dưới đường cong insulin vẫn cao hơn 29% so với giả dược (p < 0,05) và nồng độ glucose tăng trong giờ đầu tiên, tuy nhiên nồng độ adrenaline và axit béo tự do (NEFA) trong huyết tương trước khi làm OGTT vào ngày 14 đã giảm đáng kể so với ngày 0 (p < 0,05) [2]. Điều này cho thấy cơ thể bắt đầu hình thành cơ chế dung nạp và giảm bớt phản ứng kích hoạt hệ giao cảm sau 2 tuần dùng liên tục, dẫu cho chuyển hóa carbohydrate vẫn chưa trở về hoàn toàn trạng thái ban đầu [2]. Đáng chú ý, một nghiên cứu khác ghi nhận việc tiêu thụ lượng cà phê chứa caffeine rất cao trong 4 tuần (lên tới 70 g bã cà phê) lại làm gia tăng nồng độ insulin lúc đói do phơi nhiễm liều caffeine quá mức [1].

Những nhóm đối tượng cần lưu ý thận trọng

Dựa trên các số liệu thực nghiệm, tác động suy giảm nhạy insulin cấp tính không ảnh hưởng quá nặng nề đến người trẻ khỏe mạnh, nhưng đòi hỏi sự cẩn trọng ở các nhóm sau:

  • Người mắc bệnh đái tháo đường típ 2: Do caffeine có thể làm tăng mức đường huyết kéo dài suốt 3 giờ sau ăn và giảm 14% chỉ số nhạy insulin, việc sử dụng cà phê đậm đặc ngay trước bữa ăn chứa nhiều tinh bột có thể khiến việc kiểm soát đường huyết sau ăn trở nên khó khăn hơn [5].
  • Phụ nữ mắc đái tháo đường thai kỳ: Uống caffeine cấp tính ở liều 3 mg/kg thể trọng làm giảm 18% độ nhạy insulin và làm tăng diện tích dưới đường cong của glucose máu [6]. Nhóm đối tượng này cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa sản và dinh dưỡng trước khi duy trì đồ uống chứa caffeine.
  • Người không có thói quen dùng caffeine: Những người hiếm khi uống cà phê khi đột ngột tiếp nạp một lượng lớn caffeine sẽ trải qua đợt tăng vọt adrenaline, axit béo tự do và sụt giảm độ nhạy insulin mạnh mẽ hơn so với người đã hình thành thói quen dung nạp lâu ngày [2].

Gợi ý điều chỉnh thói quen sử dụng thực tế

Để khai thác các hoạt chất chống oxy hóa trong cà phê mà hạn chế tối đa tình trạng rối loạn đường huyết sau ăn, người tiêu dùng có thể áp dụng các bước điều chỉnh đơn giản:

  • Tách rời thời điểm uống cà phê và bữa ăn chính: Tránh uống cà phê chứa caffeine cùng lúc hoặc ngay trước bữa sáng giàu tinh bột có chỉ số GI cao, bởi sự kết hợp này làm tăng đáng kể đỉnh đường huyết và kéo dài tình trạng kháng insulin sang cả bữa ăn tiếp theo [5, 8]. Tốt nhất nên uống cách bữa ăn ít nhất 1-2 giờ.
  • Cân nhắc chuyển sang cà phê khử caffeine (decaf): Cà phê decaf giữ lại được các polyphenol có lợi như axit chlorogenic và trigonelline nhưng không chứa hàm lượng caffeine gây kích hoạt adrenaline [1]. Nghiên cứu cho thấy decaf liên quan nghịch với đường huyết 2 giờ sau ăn và cải thiện chức năng tế bào beta tuyến tụy [8].
  • Kiểm soát liều lượng hợp lý: Tránh lạm dụng lượng caffeine quá mức vượt ngưỡng chuyển hóa của cơ thể (như mức tương đương 70 g bã cà phê mỗi ngày), vì liều quá cao có thể duy trì mức tăng insulin lúc đói kéo dài [1].
  • Không tự ý thay đổi phác đồ điều trị: Người có bệnh nền chuyển hóa hoặc đang dùng thuốc hạ đường huyết cần theo dõi trị số cá nhân và trao đổi với bác sĩ điều trị để xây dựng chế độ dinh dưỡng tối ưu.

Uống cà phê chứa caffeine quả thực gây suy giảm độ nhạy insulin và giảm khả năng dung nạp glucose trong ngắn hạn do giải phóng adrenaline và ức chế adenosine [1]. Dẫu vậy, hiện tượng này có xu hướng giảm dần khi cơ thể thích nghi sau vài tuần và không làm triệt tiêu các lợi ích giảm nguy cơ đái tháo đường trong dài hạn nhờ các hoạt chất sinh học tự nhiên [2, 3]. Hiểu đúng cơ chế và bố trí thời điểm thưởng thức cà phê hợp lý sẽ giúp bảo vệ đường huyết ổn định mà vẫn duy trì được sự tỉnh táo hàng ngày.