Cây bún (danh pháp khoa học: Toddalia asiatica, thuộc họ Rutaceae) từ lâu đã xuất hiện trong nhiều bài thuốc dân gian nhằm giảm đau nhức xương khớp và chống viêm sưng. Nhiều người truyền tai nhau sử dụng rễ cây bún sắc uống hoặc ngâm rượu mà không nắm rõ thành phần hóa học thực sự bên trong. Việc sử dụng thảo dược theo kinh nghiệm truyền miệng tiềm ẩn nhiều nguy cơ sức khỏe khó lường.
Thực tế, rễ cây bún chứa hàm lượng dồi dào các hoạt chất sinh học nhóm alkaloid và coumarin mang hoạt tính giảm đau, kháng khuẩn [1]. Tuy nhiên, các dẫn xuất alkaloid trong dược liệu này đồng thời thể hiện độc tính tế bào rất mạnh trong điều kiện thử nghiệm [1, 8]. Việc tự ý sắc uống liều cao hoặc dùng kéo dài có thể gây ngộ độc tế bào và dẫn đến nhiều hệ lụy cho các cơ quan nội tạng.
Hệ hoạt chất phức tạp trong rễ cây bún
Các nghiên cứu hóa thực vật hiện đại đã phân lập và nhận diện được hàng chục hợp chất có hoạt tính sinh học phân bố tại các bộ phận của cây bún, tập trung nhiều nhất ở vỏ rễ [2, 3]. Phân tích rễ cây bún bằng kỹ thuật phân tích hiện đại ghi nhận sự có mặt của 59 thành phần riêng biệt, trong đó nổi bật là 29 hợp chất coumarin, 25 alkaloid, một axit phenolic cùng 4 dẫn xuất flavonoid [1].
Nhóm coumarin đặc trưng gồm toddaculin, toddanol, toddalolactone, isopimpinellin, pimpinellin hay bergapten đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên đặc tính sinh học của chiết xuất rễ [3, 6, 7]. Bên cạnh đó, nhóm hợp chất alkaloid dạng benzo[c]phenanthridine và quinoline như nitidine, chelerythrine, skimmianine và dictamnine cũng hiện diện với nồng độ đáng kể [3, 6].
Sự kết hợp giữa coumarin và alkaloid tạo nên nền tảng dược lý phong phú, giúp cây bún có khả năng kháng viêm, giảm cảm giác đau buốt, hỗ trợ ức chế vi khuẩn và chống khối u [1]. Một số hợp chất phân lập từ thân gỗ của loài cây này còn bộc lộ tác dụng chống ngưng tập tiểu cầu rõ rệt trong các thử nghiệm in vitro [2].
Hoạt tính giảm đau và cơ chế kháng viêm thực nghiệm
Hiệu quả giảm đau và tiêu viêm của alkaloid chiết xuất từ cây bún đã được kiểm chứng qua các mô hình dược lý trên động vật [3]. Trong nghiên cứu in vivo, phần alkaloid thô giúp ức chế đáng kể hiện tượng sưng phù tai chuột do hóa chất xylol gây ra, làm xẹp tình trạng sưng khớp gối thực nghiệm do tiêm agar và hạn chế quá trình di chuyển bạch cầu kích hoạt bởi hợp chất CMC-Na [3].
Cùng với khả năng chống viêm mô, chiết xuất alkaloid thô làm giảm rõ rệt số lần quặn đau của chuột cống trắng trong thử nghiệm gây đau thực nghiệm [3]. Hoạt tính kháng viêm này giải thích tại sao dược liệu thường được dùng trong dân gian để làm dịu các cơn đau cơ bắp hay viêm khớp cấp tính [5, 7].
Các báo cáo kiểm nghiệm cũng chỉ ra dịch chiết rễ cây bún chứa các alkaloid benzo[c]phenanthridine có khả năng kháng khuẩn đối với hai chủng vi khuẩn Gram dương, 5 chủng vi khuẩn Gram âm cùng 5 loại nấm gây bệnh thực nghiệm [4]. Tác động kháng khuẩn và tiêu độc bổ trợ giúp cây bún có tiềm năng nghiên cứu thuốc điều trị viêm nhiễm [2, 8].
Độc tính tế bào của alkaloid và nguy cơ khi dùng quá liều
Mặc dù có tiềm năng dược lý cao, các dẫn xuất alkaloid trong cây bún lại mang độc tính tế bào tương đối mạnh [1, 8]. Năm 2018, thử nghiệm đánh giá độc tính tế bào từ các chất phân lập trong rễ cây bún cho thấy hợp chất số 10 có khả năng gây độc tế bào rất mạnh đối với dòng tế bào KB với giá trị IC50 đạt 2,60 microgam/mL, tiệm cận mức tác dụng của chất đối chứng ellipticine, dù hợp chất này không bộc lộ độc tính trên dòng tế bào Vero lành tính [5].
Cũng trong nghiên cứu này, dẫn xuất alkaloid 8S-10-O-demethylbocconoline thể hiện độc tính tế bào yếu hơn trên dòng KB với giá trị IC50 đo được là 21,69 microgam/mL [5]. Năm 2014, một phân tích khác về 8 alkaloid mới và 10 alkaloid đã biết tách từ rễ cây bún cũng kết luận các alkaloid nhóm benzo[c]phenanthridine và secobenzo[c]phenanthridine thể hiện độc tính tế bào đáng kể khi thử nghiệm trên 8 dòng tế bào khối u khác nhau [4].
Về mặt độc tính cấp, nghiên cứu thực nghiệm xác định chỉ số gây chết một nửa (LD50) của alkaloid thô từ cây bún trên chuột cống đạt 1,622 g/kg thể trọng, với khoảng tin cậy 95% dao động từ 1,29 g/kg đến 2,03 g/kg [3]. Điều này chứng minh rằng alkaloid trong dược liệu sở hữu ngưỡng an toàn hữu hạn; việc dung nạp quá liều trong thời gian ngắn có thể kích hoạt ngộ độc cấp tính, phá hủy màng tế bào và tổn thương mô [3].
Giới hạn hấp thu và bằng chứng chuyển hóa trong cơ thể
Dù rễ cây bún chứa nhiều hoạt chất, cơ thể sinh vật hấp thu và đào thải từng nhóm chất với tốc độ hoàn toàn khác nhau [6]. Năm 2022, nghiên cứu động học chuyển hóa và bài tiết trên chuột sau khi uống dịch chiết cây bún đã phát hiện 4 coumarin, 3 alkaloid và một flavonoid gồm hesperidin, nitidine chloride, chelerythrine, toddalolactone, isopimpinellin, pimpinellin, bergapten và dictamnine trong phân động vật [6].
Tuy nhiên, khi phân tích huyết tương và nước tiểu của chuột, các nhà nghiên cứu chỉ tìm thấy sự hiện diện của 4 coumarin (toddalolactone, isopimpinellin, pimpinellin, bergapten) và duy nhất một alkaloid là dictamnine [6]. Giới hạn định lượng dưới của phương pháp phân tích ghi nhận đạt từ 2,5 ng/mL đến 30,0 ng/mL tùy từng hợp chất cụ thể [6].
Hiện tượng các alkaloid mạnh như nitidine chloride hay chelerythrine không tích lũy lượng lớn trong huyết tương nhưng xuất hiện trong phân cho thấy mức độ hấp thu đường tiêu hóa của chúng có rào cản nhất định, hoặc hoạt chất bị đào thải nhanh qua mật [6]. Do đó, việc tự ý dùng nước sắc cô đặc để mong tăng nồng độ thuốc trong máu có thể dẫn đến quá tải đường tiêu hóa, gây ngộ độc đường ruột trước khi cơ thể kịp hấp thu dược chất.
Hiểu lầm thường gặp về cây bún trong dân gian
Nhiều người lầm tưởng rằng mọi bài thuốc từ cây cỏ tự nhiên đều lành tính và uống càng đặc, ngâm rượu càng lâu thì hiệu quả điều trị càng cao. Với cây bún, do chứa các alkaloid độc tính cao như nitidine và chelerythrine, việc sắc rễ cây uống thay trà hàng ngày là thói quen cực kỳ nguy hiểm có thể kích hoạt các phản ứng độc tế bào [1, 6, 8].
Một hiểu lầm phổ biến khác là xem cây bún như phương thuốc đặc trị có thể chữa dứt điểm bệnh thoái hóa khớp hay ung bướu. Mặc dù các nghiên cứu ghi nhận cây bún có tác dụng giảm đau, kháng sưng và ức chế tế bào khối u in vitro, các dữ liệu này phần lớn chỉ mới dừng lại ở quy mô phòng thí nghiệm hoặc trên động vật gặm nhấm [1, 5, 8]. Thảo dược này chưa được chuẩn hóa thành dạng thuốc điều trị dứt điểm trên lâm sàng ở người.
Ngoài ra, người dân thường tự hái rễ cây ngoài tự nhiên để dùng mà không qua kiểm định. Nghiên cứu năm 2019 cảnh báo rằng hàm lượng hoạt chất coumarin và alkaloid trong các mẫu rễ cây bún thu hái ở các địa điểm khác nhau có sự chênh lệch hóa học rất lớn qua phân tích hóa trắc học [1]. Dùng dược liệu không rõ nguồn gốc dễ gây quá liều độc chất hoặc không đạt hiệu quả điều trị mong muốn [1].
Những đối tượng cần tuyệt đối thận trọng
Những người mắc bệnh lý về gan và thận mãn tính cần hết sức lưu ý. Mặc dù thử nghiệm trên chuột cống cho thấy dùng alkaloid thô liên tục 2 tuần không làm biến đổi đáng kể chỉ số men gan ALT, AST hay gây tổn hại cấu trúc mô gan chuột [3], nguy cơ tích tụ độc tính tế bào khi sử dụng kéo dài trên cơ thể người bệnh suy giảm chức năng khử độc vẫn chưa có đầy đủ chứng cứ kiểm chứng an toàn [1, 5].
Phụ nữ đang mang thai hoặc người mẹ đang nuôi con bú không được tự ý sử dụng chiết xuất cây bún dưới mọi hình thức. Độc tính tế bào của các alkaloid benzo[c]phenanthridine có thể cản trở sự phân chia tế bào bình thường và gây nguy hại cho phôi thai đang phát triển [1, 8].
Bệnh nhân đang chuẩn bị phẫu thuật hoặc người gặp rối loạn đông máu cũng phải thận trọng. Thử nghiệm khoa học đã chỉ ra một số thành phần trong cây bún thể hiện hoạt tính chống ngưng tập tiểu cầu mạnh mẽ, có thể làm gia tăng nguy cơ xuất huyết khó cầm nếu dùng phối hợp với thuốc chống đông [2].
Khuyến nghị áp dụng thực tế an toàn
Người bệnh không tự ý thu hái rễ hoặc vỏ cây bún ngoài tự nhiên để tự sắc nước uống hoặc ngâm rượu xoa bóp tại nhà [1, 2]. Do hàm lượng coumarin và alkaloid biến động thất thường theo từng cá thể cây và vùng đất, việc tự bào chế thủ công rất khó kiểm soát liều lượng và độc tính [1].
Khi có nhu cầu dùng các bài thuốc cổ truyền chứa vị bún nhằm giảm đau nhức xương khớp, người bệnh cần đến các cơ sở y học cổ truyền uy tín để được bác sĩ kê đơn với liều dùng chuẩn hóa [3]. Dược liệu sử dụng phải trải qua quy trình kiểm nghiệm hàm lượng hoạt chất và loại bỏ tạp chất độc hại bằng các quy chuẩn phân tích đạt chuẩn [2, 7].
Trong quá trình sử dụng thảo dược dưới sự chỉ định chuyên môn, nếu xuất hiện các biểu hiện bất thường như buồn nôn, cồn cào tiêu hóa, chóng mặt hoặc nổi mẩn ngứa, cần ngưng dùng ngay và tới bệnh viện kiểm tra [5, 7]. Cần thảo luận kỹ với bác sĩ điều trị nếu đang dùng kèm các thuốc tây y như thuốc chống đông máu hoặc thuốc bảo vệ gan [4, 5].
Cây bún (Toddalia asiatica) là vị thuốc sở hữu nhiều hoạt chất quý giá giúp chống viêm, giảm đau và kháng khuẩn hiệu quả trên thực nghiệm động vật [2, 5]. Song song đó, độc tính tế bào của các alkaloid nitidine hay chelerythrine đòi hỏi người dùng phải luôn thận trọng và tôn trọng ngưỡng an toàn [1, 5, 8]. Người bệnh tuyệt đối không dùng thảo dược này để thay thế các chỉ định điều trị y khoa và cần tham khảo ý kiến nhân viên y tế trước khi dùng.






