Nhiều cha mẹ thường xuyên truyền tai nhau việc bổ sung kẽm định kỳ vài đợt mỗi năm để giúp trẻ ăn ngon miệng, tăng cân và phòng ngừa ốm vặt. Thói quen mua các loại siro, cốm vi chất chứa kẽm về cho con uống dự phòng dù trẻ không có biểu hiện thiếu hụt đang ngày càng phổ biến trong các gia đình.
Tuy nhiên, việc tự ý cho trẻ uống kẽm định kỳ dự phòng không phải là giải pháp phù hợp cho mọi trường hợp. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) hiện khuyến cáo dùng kẽm trong điều trị tiêu chảy, nhưng chưa đạt được sự đồng thuận chung về việc phân phối kẽm định kỳ đại trà cho mục đích dự phòng [1].
Cơ chế tác động của vi chất kẽm trong cơ thể
Kẽm là một vi chất dinh dưỡng thiết yếu, đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong giai đoạn ấu thơ và thai kỳ [2]. Vi chất này tham gia vào hàng loạt quá trình sinh học bên trong cơ thể con người, từ phân chia tế bào, tổng hợp protein, phát triển thể chất đến biểu hiện gen và nhiều chức năng miễn dịch khác nhau [1]. Nồng độ kẽm tập trung rất cao trong chất nền xương, tương tác trực tiếp với các hormone quan trọng tham gia vào quá trình phát triển hệ xương khớp [3].
Sự thiếu hụt nồng độ kẽm cần thiết liên quan mật thiết đến nhiều hệ lụy tiêu cực đối với sức khỏe của trẻ nhỏ [1]. Cụ thể, thiếu kẽm làm suy giảm khả năng tăng trưởng thể chất, suy giảm năng lực miễn dịch và kìm hãm sự phát triển thần kinh [1]. Trẻ thiếu vi chất này có nguy cơ nhiễm trùng gia tăng, dễ mắc chứng thấp còi và gánh nặng bệnh tật do thiếu kẽm được ước tính gây ra khoảng 800.000 ca tử vong vượt mức ở trẻ dưới 5 tuổi trên phạm vi toàn cầu [1, 2]. Trên thế giới, hơn 17% dân số từng được ước tính có nguy cơ hấp thu kẽm không đầy đủ qua chế độ ăn [4].
Dù có vai trò nền tảng, kẽm trong cơ thể hoạt động theo cơ chế cân bằng nội môi nghiêm ngặt. Việc đưa thêm kẽm từ bên ngoài vào khi cơ thể không thiếu hụt có thể không đem lại hiệu quả kích thích miễn dịch như mong đợi, thậm chí gây cản trở hấp thu các khoáng chất quan trọng khác.
Bằng chứng khoa học về việc bổ sung kẽm dự phòng
Các nghiên cứu lâm sàng đã phân tích sâu về tác động của các can thiệp bổ sung kẽm nhằm đánh giá hiệu quả thực tế trên nhóm trẻ nhỏ. Các dữ liệu khoa học cho thấy bức tranh đa chiều giữa lợi ích lâm sàng và những giới hạn cụ thể.
Một phân tích tổng hợp công bố năm 2011 trên PubMed, Cochrane Library và cơ sở dữ liệu vùng của WHO đã tổng hợp các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (RCT) bổ sung kẽm kéo dài trên 3 tháng ở trẻ dưới 5 tuổi tại các nước đang phát triển [5]. Dữ liệu từ 8 thử nghiệm cho thấy việc chỉ bổ sung kẽm liên quan đến mức giảm 9% tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân nhưng không đạt ý nghĩa thống kê (RR = 0,91; khoảng tin cậy 95% CI: 0,82 - 1,01) [5]. Tương tự, tác động giảm tử vong riêng do tiêu chảy là 18% (RR = 0,82; 95% CI: 0,64 - 1,05) và giảm 15% tử vong do viêm phổi (RR = 0,85; 95% CI: 0,65 - 1,11), cả hai đều không đạt ý nghĩa thống kê [5]. Tuy vậy, về mặt bệnh tật, bổ sung kẽm dự phòng giúp giảm 13% tỷ lệ mắc tiêu chảy (RR = 0,87; 95% CI: 0,81 - 0,94) và giảm 19% tỷ lệ mắc viêm phổi (RR = 0,81; 95% CI: 0,73 - 0,90) [5].
Về nguy cơ nhiễm trùng đường hô hấp dưới cấp tính (ALRI), một phân tích tổng hợp và hồi quy tổng hợp công bố năm 2010 đã đánh giá 10 thử nghiệm ngẫu nhiên với 49.450 trẻ dưới 5 tuổi được bổ sung kẽm hàng ngày hoặc hàng tuần trong thời gian trên 3 tháng [6]. Kết quả chỉ ra kẽm làm giảm 35% tỷ lệ mắc ALRI khi bệnh được xác định theo tiêu chuẩn lâm sàng cụ thể (IRR 0,65; 95% CI: 0,52 - 0,82) [6]. Ngược lại, kẽm hoàn toàn không có hiệu quả khi áp dụng định nghĩa bệnh có độ đặc hiệu thấp dựa trên lời kể của người chăm sóc (IRR 1,01; 95% CI: 0,91 - 1,12) hoặc theo phân loại "viêm phổi không nặng" của WHO (IRR 0,96; 95% CI: 0,86 - 1,08) [6]. Phân tích hồi quy tổng hợp ghi nhận hiệu quả của kẽm liên quan đến tiêu chí xác định bệnh, chứ không phụ thuộc vào độ tuổi nền, vị trí địa lý, tình trạng dinh dưỡng hay liều lượng kẽm sử dụng [6].
Về sự phát triển thể chất, một thử nghiệm can thiệp cộng đồng công bố năm 2014 thực hiện tại các trạm y tế nông thôn trên 838 trẻ từ 6-24 tháng tuổi (gồm 393 trẻ nhóm can thiệp và 445 trẻ nhóm chứng) [3]. Trẻ ở nhóm can thiệp được cho uống siro kẽm sulfat liều 5 ml/ngày (chứa 5 mg kẽm nguyên tố) liên tục trong 3 tháng [3]. Kết quả theo dõi nhân trắc học hàng tháng ghi nhận chiều cao của trẻ nhóm can thiệp tăng thêm 0,5 cm so với nhóm chứng (p < 0,001) [3]. Tuy nhiên, việc bổ sung kẽm không tạo ra bất kỳ ảnh hưởng nào lên mức tăng cân nặng của trẻ [3].
Năm 2021, một nghiên cứu tại Dhaka, Bangladesh tiến hành giải trình tự RNA và xét nghiệm nồng độ cytokine trên mẫu bệnh phẩm của 100 trẻ từ 9-11 tháng tuổi được can thiệp hàng ngày trong 24 tuần (chia thành các nhóm dùng gói bột đa vi chất chứa 10 mg kẽm, viên nén phân tán chứa 10 mg kẽm, hoặc bột giả dược) [4]. Các nhà khoa học không phát hiện bất kỳ tác động nào từ can thiệp kẽm lên sự biểu hiện gen khác biệt ở máu ngoại vi tại thời điểm kết thúc nghiên cứu, cũng như không thấy sự thay đổi biểu hiện gen so với ban đầu [4]. Bổ sung kẽm cũng không tạo ra thay đổi đối với nồng độ cytokine huyết thanh và phân tích thăm dò không tìm thấy mối liên quan giữa tình trạng suy dinh dưỡng (thấp còi, nhẹ cân, gầy còm) với biểu hiện gen máu ngoại vi [4].
Ở khía cạnh kinh tế y tế, nghiên cứu năm 2014 mô hình hóa lợi ích bổ sung kẽm dự phòng cho trẻ từ 1 đến 5 tuổi tại các nước kém phát triển nhất ước tính can thiệp này có thể giúp ngăn ngừa 1,423 DALY (năm sống điều chỉnh theo mức độ bệnh tật) trên 100 hộ gia đình mỗi năm [1]. Chi phí ước tính là 606 USD cho mỗi DALY tiết kiệm được nếu dùng viên uống, 1.211 USD nếu dùng bánh quy bổ sung vi chất và 879 USD nếu đưa kẽm qua hệ thống lọc nước [1].
Lợi ích thật sự và những giới hạn của bằng chứng
Các dữ liệu nghiên cứu chỉ ra rằng việc bổ sung kẽm dự phòng có thể hỗ trợ giảm tỷ lệ mắc tiêu chảy và viêm phổi ở trẻ em tại các quốc gia đang phát triển [1, 4]. Chế độ bổ sung này cũng cho thấy khả năng cải thiện tốc độ tăng trưởng chiều cao tuyến tính ở trẻ nhỏ sinh sống tại các khu vực có tỷ lệ suy dinh dưỡng vừa phải [3]. Các can thiệp có mục tiêu nhằm vào tình trạng thiếu kẽm có tiềm năng xoa dịu những hậu quả bất lợi thông qua bổ sung điều trị, bổ sung dự phòng hoặc tăng cường vi chất vào thực phẩm [2].
Tuy nhiên, bằng chứng lâm sàng hiện nay cho thấy kẽm không giúp giảm cân nặng suy dinh dưỡng [3]. Bổ sung vi chất này cũng không làm giảm tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân hay tử vong đặc hiệu do tiêu chảy và viêm phổi ở mức có ý nghĩa thống kê [5]. Việc bổ sung kẽm hàng ngày cũng không tạo ra dấu ấn miễn dịch rõ rệt lên biểu hiện gen máu ngoại vi hay nồng độ cytokine ở trẻ nhỏ [4]. Đáng chú ý, nhiều quốc gia thu nhập thấp và trung bình đã ban hành chính sách quốc gia dùng kẽm điều trị tiêu chảy cho trẻ dưới 5 tuổi với thời gian 10-14 ngày nhằm rút ngắn thời gian và độ nặng của đợt bệnh, nhưng rất ít quốc gia thiết lập được chương trình dự phòng thiếu kẽm hiệu quả trên quy mô lớn [1, 5].
Nguy cơ tiềm ẩn khi lạm dụng kẽm kéo dài
Nhiều bậc phụ huynh tin rằng kẽm là thực phẩm chức năng bổ sung nên "uống thừa sẽ tự đào thải", không gây hại cho sức khỏe. Đây là một quan niệm sai lầm có thể dẫn tới những biến chứng nguy hiểm đối với sự phát triển lâu dài của trẻ.
Bằng chứng khoa học chứng minh việc dung nạp kẽm quá mức có thể đem lại những hệ lụy tiêu cực về sức khỏe [7]. Hiện nay, các hướng dẫn về giới hạn trên (UL) của lượng kẽm tiêu thụ ở trẻ nhỏ chủ yếu vẫn phải ngoại suy từ dữ liệu của người trưởng thành [7].
Một đánh giá hệ thống và phân tích tổng hợp công bố năm 2022 đã tổng hợp dữ liệu từ 58 nghiên cứu trên trẻ từ 0 đến 3 tuổi dùng các mức liều kẽm dao động từ 3 đến 70 mg/ngày, với 39 nghiên cứu đóng góp vào phân tích gộp [7]. Kết quả chỉ ra rằng việc bổ sung kẽm gây ra tác động bất lợi đến nồng độ ferritin huyết thanh, nồng độ đồng trong huyết tương/huyết thanh, thụ thể transferrin huyết thanh, nồng độ hemoglobin, hematocrit và làm tăng tỷ lệ mắc thiếu máu ở ít nhất một trong các phân nhóm được điều tra [7]. Dù bổ sung kẽm giúp cải thiện tỷ số lactulose:mannitol trong đường ruột, can thiệp này không cho thấy ảnh hưởng đáng kể lên protein phản ứng C (CRP), enzym superoxide dismutase hồng cầu, kẽm protoporphyrin, cholesterol máu hay thiếu máu thiếu sắt [7]. Độ chắc chắn của bằng chứng này được xếp từ rất thấp đến trung bình, và các nhà nghiên cứu lưu ý vẫn chưa rõ các tác động này có mang ý nghĩa lâm sàng hay không [7].
Tình trạng dư thừa kẽm làm cạnh tranh hấp thu trực tiếp với sắt và đồng tại niêm mạc ruột. Khi nồng độ kẽm ngoại sinh quá cao, lượng đồng và các chỉ số dự trữ sắt trong cơ thể sụt giảm, dẫn tới nguy cơ trẻ bị thiếu máu vi chất dù chế độ ăn vẫn cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng.
Ai là đối tượng thực sự cần bổ sung kẽm?
Việc bổ sung kẽm dự phòng định kỳ chỉ nên cân nhắc trong các chương trình sức khỏe cộng đồng dành cho trẻ em từ 1-5 tuổi tại các vùng dịch tễ khó khăn, nơi tỷ lệ thiếu hụt vi chất trong cộng đồng ở mức cao hoặc khẩu phần ăn chủ yếu dựa vào thực vật nghèo kẽm [2, 7].
Đối với từng cá nhân, can thiệp bổ sung kẽm được chỉ định rõ ràng nhất là điều trị hỗ trợ tiêu chảy ở trẻ dưới 5 tuổi với phác đồ 10-14 ngày nhằm làm giảm thời gian, mức độ nghiêm trọng và giảm tỷ lệ tái phát trong những tháng tiếp theo [1, 5]. Những trẻ suy dinh dưỡng thấp còi nặng hoặc sống tại khu vực thiếu hụt dinh dưỡng đặc thù cần được bác sĩ chuyên khoa thăm khám, đánh giá trước khi chỉ định [1, 7].
Những trẻ hoàn toàn khỏe mạnh, phát triển thể chất bình thường theo biểu đồ tăng trưởng và có chế độ ăn uống đa dạng không cần thiết phải uống kẽm định kỳ dự phòng. Việc tự ý cho trẻ dùng các sản phẩm bổ sung kẽm liều cao hoặc kéo dài trên 3 tháng có nguy cơ gây ức chế chuyển hóa sắt, đồng và làm tăng nguy cơ thiếu máu [7]. Phụ huynh của trẻ có bệnh lý nền về huyết học (như rối loạn hemoglobin di truyền) hoặc đang điều trị các bệnh mạn tính cần đặc biệt thận trọng và phải tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa trước khi bổ sung bất kỳ dạng vi chất nào [8].
Gợi ý áp dụng thực tế và chế độ dinh dưỡng cân bằng
Thay vì phụ thuộc vào các chế phẩm thuốc hay siro vi chất đóng chai sẵn, nguồn bổ sung kẽm tự nhiên, an toàn và cân đối nhất đối với trẻ nhỏ đến từ thực phẩm hàng ngày. Chế độ ăn dựa thuần túy vào thực vật thường có hàm lượng kẽm thấp và dễ dẫn tới thiếu hụt [3]. Do đó, phụ huynh nên xây dựng khẩu phần cân đối kết hợp các nguồn thực phẩm giàu kẽm có giá trị sinh học cao.
Các nhóm thực phẩm giàu kẽm bao gồm hải sản (hàu, tôm, cua), thịt đỏ (thịt bò, thịt heo), thịt gia cầm, trứng, các loại hạt và cây họ đậu. Quá trình chế biến thực phẩm cho trẻ nhỏ cần đa dạng hóa, ngâm nở các loại hạt đậu để giảm nồng độ phytate - hợp chất tự nhiên có khả năng gắn kết và ức chế sự hấp thu kẽm vào cơ thể.
Trong trường hợp trẻ được bác sĩ chẩn đoán xác định thiếu kẽm hoặc chỉ định dùng kẽm trong phác đồ điều trị tiêu chảy 10-14 ngày [8], cha mẹ cần tuân thủ nghiêm ngặt liều lượng được kê đơn, ví dụ mức liều 5 mg kẽm nguyên tố mỗi ngày từng được áp dụng trên nhóm trẻ 6-24 tháng trong nghiên cứu lâm sàng [3]. Tuyệt đối không tự ý phối hợp nhiều chế phẩm đa vi chất chứa kẽm cùng lúc để tránh vượt quá ngưỡng dung nạp khuyến cáo [7].
Vi chất dinh dưỡng đóng vai trò cốt lõi cho sức khỏe nhưng chỉ phát huy giá trị tối ưu khi được sử dụng đúng đối tượng và đúng liều lượng. Việc tự ý cho trẻ uống kẽm định kỳ dự phòng tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất cân bằng khoáng chất hơn là lợi ích thực tế. Cha mẹ nên ưu tiên tối ưu hóa khẩu phần ăn phong phú và đưa trẻ tới các cơ sở y tế để được thăm khám, tư vấn chuyên khoa trước khi quyết định bổ sung bất kỳ vi chất nào.



