Cơn đau dạ dày quặn thắt do co bóp đường tiêu hóa là nỗi ám ảnh với nhiều người. Trong dân gian, củ dòm thường được rỉ tai nhau như một vị thuốc nam giảm đau bụng, đau dạ dày nhanh chóng. Thậm chí nhiều người còn tìm mua loại củ này dưới dạng tươi hoặc sấy khô để sắc uống mỗi khi xuất hiện cơn đau.

Liệu củ dòm có thực sự làm dịu cơn co thắt dạ dày hiệu quả như lời đồn? Câu trả lời thẳng thắn từ góc độ khoa học hiện đại: Hiện chưa có bất kỳ thử nghiệm lâm sàng nào trên người chứng minh củ dòm có thể chữa hoặc cắt cơn đau dạ dày. Bằng chứng khoa học về loài cây này chủ yếu tập trung vào các alkaloid có hoạt tính gây độc tế bào ung thư và kháng ký sinh trùng trong phòng thí nghiệm.

Kinh nghiệm truyền miệng và sự nhầm lẫn về cơ chế

Trong đời sống, nhiều loại thảo dược có chứa các hợp chất giúp làm giãn cơ trơn đường ruột thường được ứng dụng để làm dịu cơn đau bụng [4, 8]. Các hợp chất chống co thắt thường được dùng để kiểm soát tình trạng căng thẳng cơ xương và đặc biệt là làm giảm nhu động ruột trong các cơn co thắt cơ trơn tiêu hóa [1]. Co thắt bất thường của ống tiêu hóa là nguyên nhân gặp trong nhiều rối loạn như khó tiêu, liệt dạ dày hay hội chứng ruột kích thích [1].

Chính vì tác dụng thư giãn cơ trơn nói chung của một số hoạt chất tự nhiên, củ dòm vốn thuộc chi Bình vôi (Stephania) thường bị gán ghép công dụng giảm đau dạ dày theo kinh nghiệm truyền miệng. Nhiều người cho rằng thảo dược vùng cao này làm êm bụng tức thì do ức chế các đợt co bóp mạnh. Tuy nhiên, sự suy diễn từ kinh nghiệm dân gian sang hiệu quả điều trị bệnh lý dạ dày cụ thể là một khoảng cách rất lớn.

Khoa học thực sự nghiên cứu gì về củ dòm?

Củ dòm có tên khoa học là Stephania dielsiana Y.C.Wu. Khi tra cứu các công bố quốc tế về loài cây này, các nhà khoa học hiện đại không tập trung vào dạ dày mà đi sâu vào việc chiết tách các alkaloid khung aporphine và đánh giá hoạt tính sinh học tế bào.

Một nghiên cứu công bố năm 2024 đã tiến hành khảo sát thành phần hóa thực vật từ thân và lá của loài Stephania dielsiana [2]. Các nhà khoa học đã phân lập được 2 alkaloid aporphine mới (được ký hiệu là 1 và 5), cùng với 6 alkaloid đã biết trước đó (từ 2 đến 4 và từ 6 đến 8) [2]. Cấu trúc của các chất này được xác định thông qua phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR) và khối phổ phân giải cao (HR-ESI-MS) [2]. Khi đánh giá khả năng gây độc tế bào ung thư bằng phương pháp thử nghiệm MTS, hợp chất số 2 thể hiện độc tính tế bào đặc biệt mạnh trên các dòng tế bào ung thư HepG2, MCF7 và OVCAR8 với giá trị IC50 lần lượt là 3,20 +- 0,18; 3,10 +- 0,06 và 3,40 +- 0,007 microM [2]. Nghiên cứu cũng thực hiện mô phỏng gắn kết phân tử để tìm hiểu cơ chế tương tác của hợp chất này với protein đích [2].

Trước đó, một nghiên cứu vào năm 2020 khảo sát dịch chiết methanol từ lá Stephania dielsiana và các hợp chất phân lập được [3]. Nghiên cứu này phân lập được 7 hợp chất alkaloid [3]. Trong đó, oxostephanine (hợp chất 1) thể hiện hoạt tính mạnh nhất đối với một số dòng tế bào ung thư bao gồm HeLa, MDA-MB231, MDA-MB-468, MCF-7 và cả dòng tế bào không ung thư như 184B5, MCF10A với IC50 từ 1,66 đến 4,35 microM [3]. Oxostephanine có hoạt tính trung bình mạnh gấp 2 lần so với stephanine (hợp chất 3) có cấu trúc hóa học tương tự [3]. Các tế bào được xử lý bằng oxostephanine bị ngừng chu kỳ tế bào ở pha G2/M, dẫn đến chết tế bào theo chương trình [3]. Việc ngừng pha G2/M này xuất phát từ việc bất hoạt enzym Aurora kinase [3]. Mô phỏng in-silico cho thấy oxostephanine liên kết vào túi gắn ATP của Aurora kinase để làm mất hoạt tính của enzym này [3]. Một alkaloid khác là thailandine (hợp chất 2) chỉ có tác dụng cao trên tế bào ung thư vú bộ ba âm tính MDA-MB-468 nhưng có độ chọn lọc xuất sắc khi so với tế bào thường [3]. Ngoài ra, thailandine còn thể hiện hoạt tính kháng ký sinh trùng sốt rét Plasmodium falciparum rất tốt trên cả chủng 3D7 nhạy cảm với chloroquine và chủng W2 kháng chloroquine [3].

Đến năm 2022, một nghiên cứu khác công bố việc chiết tách oxostephanine từ lá cây củ dòm thu hái tại huyện Ba Vì, Hà Nội, Việt Nam vào tháng 10 năm 2019 [4]. Hoạt chất này được xác định có vai trò ức chế Aurora kinase và ngăn chặn sự tạo mạch trên dòng tế bào ung thư buồng trứng OVCAR-8 trong ống nghiệm [4].

Như vậy, toàn bộ các nghiên cứu đã công bố về Stephania dielsiana hoàn toàn tập trung vào tác dụng kìm hãm tế bào ung thư và ký sinh trùng trong phòng thí nghiệm [1, 2, 7]. Tuyệt đối chưa có thử nghiệm lâm sàng nào đo lường mức độ co bóp dạ dày, giảm axit hay kiểm soát cơn đau trên người bệnh [1, 2, 7].

Bằng chứng chống co thắt đến từ đâu?

Hiểu lầm củ dòm có thể ức chế co bóp đường ruột có thể bắt nguồn từ việc đánh đồng các cơ chế chống co thắt của các thảo dược hoặc hợp chất tự nhiên khác. Chẳng hạn, các chất làm giãn cơ trơn đường tiêu hóa thường có cơ chế can thiệp vào các kênh ion hoặc thụ thể thần kinh điều khiển nhu động ruột [1].

Nghiên cứu năm 2021 trên cơ trơn hồi tràng chuột cô lập cho thấy dẫn xuất pyrrolidine (asperidine B chiết từ vi nấm) có thể làm giảm lực co bóp cơ ruột tới khoảng 37% [1]. Tác dụng chống co thắt này đạt được nhờ cơ chế chẹn kênh canxi loại L (L-type Ca2+ channel) và liên quan đến kênh K+ cùng thụ thể muscarinic [1]. Ở một loài thực vật khác là muống biển (Ipomoea pes-caprae), các hoạt chất như E-phytol và beta-damascenone cũng cho thấy khả năng ức chế co thắt cơ trơn hồi tràng chuột lang do histamine gây ra với mức ức chế lần lượt là 41% và 45%, tương đương chất giãn cơ trơn papaverine đạt 39% [5].

Tuy nhiên, các dữ liệu về việc chẹn kênh canxi hay ức chế co thắt cơ trơn này hoàn toàn thuộc về những hợp chất và loài cây khác, không phải là kết quả thu được từ củ dòm [4, 8]. Việc tự ý quy kết củ dòm cũng có tác dụng chống co thắt cơ học tương tự mà không có bằng chứng thực nghiệm là thiếu cơ sở khoa học.

Những hiểu lầm nguy hại khi dùng củ dòm giảm đau dạ dày

Hiểu lầm tai hại nhất là việc coi củ dòm là một "thần dược dạ dày" lành tính chỉ vì đây là cây cỏ tự nhiên. Người bệnh đau dạ dày thường tự mua củ dòm về ngâm rượu, sắc nước uống mỗi khi bụng đau dữ dội.

Thứ nhất, cơn đau dạ dày có thể do nhiều nguyên nhân: viêm loét, trào ngược, nhiễm khuẩn Helicobacter pylori, hoặc nghiêm trọng hơn là thủng dạ dày hay khối u ác tính. Việc tự ý uống một loại cây chứa nhiều alkaloid chưa qua kiểm định liều lượng điều trị có thể làm lu mờ triệu chứng, khiến người bệnh chủ quan, bỏ lỡ thời điểm chẩn đoán và điều trị y khoa chính xác.

Thứ hai, các nghiên cứu đã chỉ rõ alkaloid của củ dòm như oxostephanine có hoạt tính độc tế bào đối với cả các dòng tế bào bình thường (chẳng hạn như dòng tế bào không ung thư 184B5 và MCF10A với IC50 từ 1,66 đến 4,35 microM) [3]. Nếu tự ý đun sắc uống với nồng độ không được kiểm soát, độc tính của các alkaloid này đối với gan, thận và các cơ quan nội tạng khác vẫn là một ẩn số chưa được kiểm chứng đầy đủ về độ an toàn trên người [1, 2].

Ai cần thận trọng tuyệt đối?

Hiện tại chưa có nghiên cứu đánh giá tính an toàn của củ dòm trên các đối tượng nhạy cảm [1, 2, 7]. Dữ liệu hiện có của củ dòm mới chỉ dừng lại ở các thử nghiệm tế bào invitro và mô phỏng trên máy tính [1, 2, 7].

Do đó, những người tuyệt đối không nên tự ý dùng củ dòm bao gồm:

  • Phụ nữ mang thai và phụ nữ đang cho con bú.
  • Trẻ em và người cao tuổi.
  • Bệnh nhân có tiền sử bệnh lý gan, suy giảm chức năng thận hoặc bệnh lý tim mạch.
  • Người đang được điều trị các bệnh mạn tính bằng thuốc tây y, do nguy cơ tương tác giữa các alkaloid tự nhiên chưa rõ cơ chế với thuốc điều trị.
  • Người đang có triệu chứng đau bụng cấp tính không rõ nguyên nhân, sốt hoặc nôn ra máu.

Lời khuyên áp dụng thực tế

Đối với những người đang phải chịu đựng các cơn đau dạ dày tái diễn, hướng tiếp cận an toàn và thông minh nhất luôn dựa trên y học thực chứng:

  1. Thăm khám chuyên khoa: Khi bị đau tức thượng vị, ợ hơi, ợ chua hay đau quặn bụng, người bệnh cần đến cơ sở y tế để được nội soi dạ dày và làm các xét nghiệm cần thiết nhằm tìm đúng nguyên nhân gây đau.
  2. Không tự ý dùng dược liệu lạ: Tuyệt đối không nghe theo lời đồn mua các loại củ dòm trôi nổi, rễ cây không rõ nguồn gốc về sắc uống hay ngâm rượu. Sự hiện diện của các alkaloid mạnh trong củ dòm tiềm ẩn nguy cơ ngộ độc tế bào [1, 2].
  3. Thay đổi lối sống lành mạnh: Kiểm soát cơn đau dạ dày thông qua thói quen ăn uống đúng giờ, giảm các món quá chua, cay nóng, hạn chế rượu bia, cà phê và ngủ đủ giấc, giảm bớt căng thẳng tinh thần.
  4. Tuân thủ phác đồ y tế: Nếu cơn co thắt dạ dày xảy ra thường xuyên, bác sĩ sẽ kê đơn các loại thuốc giảm tiết axit, thuốc bao vết loét hoặc thuốc chống co thắt cơ trơn đã được kiểm định lâm sàng chặt chẽ về độ an toàn và liều lượng.

Mặc dù củ dòm là một nguồn tài nguyên thực vật quý giá đang mở ra những hướng nghiên cứu mới về ức chế tế bào ung thư và chống sốt rét [1, 2], nhưng hoàn toàn chưa có cơ sở khoa học để sử dụng loại cây này như một bài thuốc giảm đau dạ dày. Người dân không nên đem sức khỏe và tính mạng của mình ra thử nghiệm dựa trên những lời đồn truyền miệng thiếu căn cứ.