Nhiều người bắt đầu hành trình quản lý cân nặng bằng việc tải ứng dụng đếm calo về điện thoại. Thao tác cân đo từng gam thịt hay tra cứu từng thìa dầu ăn ban đầu mang lại cảm giác kiểm soát cơ thể rất tốt. Tuy nhiên, ranh giới giữa việc theo dõi dinh dưỡng khoa học và thói quen ám ảnh quá mức rất mong manh.

Đếm calo không trực tiếp gây ra bệnh lý ở tất cả mọi người, nhưng nghiên cứu cho thấy hành vi này liên quan mật thiết đến việc gia tăng hoặc làm trầm trọng thêm các triệu chứng rối loạn ăn uống [2, 4]. Mối nguy hiểm thực sự nằm ở động cơ phía sau và tâm lý hà khắc đối với chế độ ăn [3, 5].

Cơ chế tác động: Từ con số đến nỗi sợ thức ăn

Việc ghi chép dinh dưỡng chặt chẽ thường biến bữa ăn thành các phép tính toán học khô khan. Thay vì lắng nghe tín hiệu đói no tự nhiên từ dạ dày, người dùng phụ thuộc hoàn toàn vào hạn ngạch năng lượng hiển thị trên màn hình điện thoại [1]. Khi hành vi ăn uống bị kiểm soát gắt gao, chỉ một lượng thức ăn vượt mức cho phép cũng có thể kích hoạt cảm xúc tội lỗi và xấu hổ [2].

Cơ chế bệnh lý này liên quan mật thiết đến sự kiềm chế ăn kiêng (dietary restraint). Đây là trạng thái liên tục kìm nén nhu cầu ăn uống bình thường để đạt được mục tiêu cân nặng [3]. Sự kiềm chế kéo dài dễ dẫn đến tư duy "được ăn cả, ngã về không" (all-or-none thinking) [4]. Khi lỡ vượt chỉ tiêu vài chục calo, người ăn kiêng dễ rơi vào tâm lý buông xuôi, kích hoạt cơn ăn vô độ (binge eating) rồi sau đó tìm cách bù đắp cực đoan [1, 5].

Nghiên cứu chỉ ra mối liên hệ trên các nhóm người dùng

Các nhà khoa học đã tiến hành nhiều khảo sát thực nghiệm để làm rõ mối quan hệ giữa công cụ theo dõi calo và hành vi lệch chuẩn. Nghiên cứu năm 2017 trên 493 sinh viên đại học cho thấy người dùng các công cụ đếm calo biểu hiện mức độ lo âu về ăn uống và kiềm chế ăn kiêng cao hơn đáng kể sau khi đã hiệu chỉnh chỉ số khối cơ thể (BMI) [1]. Nhóm tác giả kết luận rằng đối với một số đối tượng, các công cụ này có thể mang lại tác hại nhiều hơn lợi ích [1].

Một nghiên cứu khác quy mô hơn vào năm 2021 khảo sát 1.357 người trưởng thành đã phân tích sâu về thói quen này [4]. Kết quả ghi nhận có 964 người (chiếm 71%) từng sử dụng ứng dụng đếm calo, và 531 người (39%) hiện vẫn đang dùng [4]. Những người từng sử dụng ứng dụng ghi nhận mức độ rối loạn ăn uống hướng tới sự gầy gò và cơ bắp cao hơn so với người chưa từng dùng [4].

Mối liên hệ này đặc biệt nghiêm trọng ở nhóm người vốn đã có tiền sử bệnh lý. Nghiên cứu năm 2018 trên 105 người được chẩn đoán mắc rối loạn ăn uống cho thấy có khoảng 75% người tham gia từng dùng ứng dụng theo dõi calo My Fitness Pal [5]. Đáng chú ý, 73% trong số những người dùng này nhận định rằng ứng dụng đã trực tiếp góp phần làm tăng nặng các triệu chứng bệnh của họ [5]. Sự nhìn nhận này có mối tương quan thuận rõ rệt với mức độ nghiêm trọng của bệnh [5].

Bằng chứng trái chiều và vai trò của động cơ cá nhân

Mối quan hệ giữa việc đếm calo và hành vi ăn uống không hoàn toàn mang tính một chiều. Một nghiên cứu lớn công bố năm 2022 về chứng mặc cảm ngoại hình cơ bắp cho thấy khao khát gầy gò (drive for thinness) làm tăng mạnh xác suất ăn vô độ, với mức tăng 64,8% giữa giá trị thấp nhất và cao nhất [2]. Tuy nhiên, khi nhóm nghiên cứu đưa khao khát gầy gò vào mô hình hiệu chỉnh, việc đếm calo lại có mối liên hệ nghịch với hành vi ăn vô độ [2]. Nếu không hiệu chỉnh yếu tố này, đếm calo vẫn thể hiện mối liên hệ thuận với hành vi ăn vô độ [2]. Điều đó cho thấy gốc rễ tâm lý muốn gầy mới là yếu tố nguy cơ cốt lõi [2].

Yếu tố động cơ được làm sáng tỏ thêm qua khảo sát năm 2021 [4]. Những cá nhân sử dụng ứng dụng vì lý do kiểm soát cân nặng hoặc vóc dáng có nguy cơ báo cáo ứng dụng gây ra các triệu chứng bệnh cao hơn hẳn nhóm dùng ứng dụng vì lý do sức khỏe hoặc phòng ngừa bệnh tật [4]. Các triệu chứng này bao gồm: bận tâm quá mức về thức ăn, lo âu thức ăn, tư duy cực đoan và hành vi thanh tẩy (tự nôn, dùng thuốc) [4]. Nhóm này cũng có mức độ bệnh nghiêm trọng hơn dù họ đánh giá ứng dụng rất "hữu ích" trong việc kiểm soát cơ thể [4].

Một số can thiệp cộng đồng liên quan đến việc công khai calo cũng cho kết quả đa dạng. Nghiên cứu năm 2015 can thiệp dán nhãn calo tại căng tin đại học trên 299 nữ sinh viên có nguy cơ bệnh lý ăn uống cho thấy lượng calo tiêu thụ không giảm đáng kể (từ 660,5 kcal xuống 600,5 kcal) [6]. Can thiệp này không làm thay đổi trạng thái cảm xúc, mức độ hài lòng cơ thể hay các hành vi không lành mạnh như ăn vô độ hay tập luyện quá mức [6].

Dẫu vậy, một bài tổng quan năm 2022 trích dẫn nghiên cứu của Larson và cộng sự trên 788 nam và 1.042 nữ chỉ ra rằng việc sử dụng nhãn calo thực đơn để giới hạn năng lượng có liên quan đến hành vi ăn vô độ ở phụ nữ, đồng thời gắn liền với lo lắng về cân nặng, ăn kiêng và các hành vi kiểm soát cân nặng không lành mạnh ở cả hai giới [7]. Bài tổng quan cũng nhắc đến việc bệnh nhân chán ăn tâm thần chọn món ít calo hơn, trong khi người mắc chứng ăn vô độ lại chọn món nhiều calo hơn khi nhìn thấy nhãn dinh dưỡng [7].

Nhận biết những hiểu lầm thường gặp

Nhiều người lầm tưởng rằng đếm calo càng chi tiết thì việc giảm cân càng an toàn và khoa học. Thực tế, sự kiềm chế ăn kiêng tự báo cáo và việc giảm cân gần đây có thể dẫn đến bệnh lý ăn uống qua các con đường độc lập [3]. Nghiên cứu năm 2016 trên 245 sinh viên cho thấy sự kiềm chế ăn kiêng liên quan nhất quán nhất đến bệnh lý ăn uống, và việc giảm cân gần đây là yếu tố nguy cơ đáng lưu tâm ở phụ nữ có chỉ số BMI thấp [3].

Một hiểu lầm khác là chỉ những ai ám ảnh về cơ bắp mới gặp rắc rối. Nghiên cứu năm 2022 khẳng định mong muốn có cơ bắp không trực tiếp dự báo hành vi ăn vô độ, mà chính là sự không chấp nhận ngoại hình kèm theo cảm giác xấu hổ, ghê tởm cơ thể bản thân mới là động lực thúc đẩy bệnh lý [2]. Việc quá chú trọng vào số liệu calo dễ biến thành công cụ phục vụ cho sự tự ti và chán ghét ngoại hình này [2].

Nhóm đối tượng cần đặc biệt thận trọng

Không phải ai đếm calo cũng phát triển thành bệnh lý, nhưng một số nhóm cần tuyệt đối thận trọng:

  • Người có tiền sử hoặc đang điều trị các dạng rối loạn ăn uống như chán ăn tâm thần, ăn ói hay ăn vô độ [2, 7].
  • Người mang tâm lý tự ti ngoại hình sâu sắc, luôn cảm thấy xấu hổ về thân hình của mình [2].
  • Phụ nữ có chỉ số BMI thấp nhưng vừa trải qua đợt giảm cân gần đây [3].
  • Người tiếp cận việc đếm calo thuần túy vì mục tiêu ép cân cấp tốc hoặc thay đổi hình thể cực đoan [4].

Khi nhận thấy bản thân xuất hiện dấu hiệu sợ hãi trước một số món ăn, hoảng loạn khi không thể cân đo chính xác calo của bữa ăn bên ngoài, hoặc có hành vi nhịn đói để bù trừ cho bữa ăn trước, bạn nên ngừng sử dụng ứng dụng ngay lập tức và tham vấn chuyên gia tâm lý hoặc bác sĩ chuyên khoa dinh dưỡng.

Hướng dẫn áp dụng theo dõi bữa ăn an toàn

Nếu mục tiêu là cải thiện sức khỏe tổng thể, việc ghi nhận dinh dưỡng cần được thực hiện linh hoạt:

  • Xác định rõ mục đích: Hãy dùng việc ghi chép để nhận diện chất lượng thực phẩm (tăng rau xanh, giảm đồ ngọt), thay vì coi con số calo là thước đo giá trị bản thân [4].
  • Tránh ghi chép cứng nhắc: Chỉ nên theo dõi ngắn hạn trong 1 đến 2 tuần để hình dung khẩu phần, không nên duy trì thói quen cân đo từng gam thức ăn trong nhiều năm liền.
  • Lắng nghe cơ thể: Kết hợp học cách ăn uống trực giác (intuitive eating), nhận biết cảm giác no đói tự nhiên thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào nhãn năng lượng [7].
  • Kết hợp đa dạng chất dinh dưỡng: Tập trung vào tính cân bằng giữa các nhóm chất bột đường, chất đạm và chất béo lành mạnh thay vì chỉ chăm chăm cắt giảm tối đa tổng lượng calo nạp vào [7].

Đếm calo bản chất chỉ là một công cụ đo lường số liệu khách quan. Việc công cụ này trở thành phương pháp hỗ trợ sức khỏe hay chiếc bẫy kích hoạt rối loạn ăn uống phụ thuộc hoàn toàn vào động cơ và sức khỏe tâm lý của người sử dụng. Hãy luôn đặt mối quan hệ lành mạnh với thực phẩm lên trên những con số trên màn hình điện thoại.