Trong suốt thai kỳ, nhiều phụ nữ thường xuyên đối mặt với cảm giác buồn bã, lo âu kéo dài nhưng lại ngần ngại dùng thuốc vì sợ ảnh hưởng đến thai nhi. Trước thực tế này, không ít bà bầu truyền tai nhau việc tăng cường ăn cá hoặc uống viên dầu cá giàu Omega-3 với hy vọng cải thiện tâm trạng một cách tự nhiên.
Trả lời trực tiếp cho thắc mắc này: Các dữ liệu khoa học hiện tại cho thấy sự thiếu hụt Omega-3 trong máu có mối liên hệ mật thiết với nguy cơ trầm cảm khi mang thai [1]. Tuy nhiên, việc uống viên bổ sung Omega-3 đơn thuần chưa chứng minh được hiệu quả rõ ràng trong việc ngăn ngừa hay điều trị dứt điểm căn bệnh này, mà chủ yếu đóng vai trò hỗ trợ bên cạnh các phương pháp điều trị tiêu chuẩn [2].
Thực trạng đáng báo động và nguyên nhân hao hụt Omega-3 ở bà bầu
Trầm cảm và rối loạn lo âu trong thời kỳ mang thai (còn gọi là giai đoạn tiền sản) phổ biến hơn nhiều người nghĩ. Các thống kê y khoa ước tính tỷ lệ phụ nữ mang thai mắc chứng trầm cảm dao động từ 7% đến 20%, trong khi tỷ lệ rối loạn lo âu nằm trong khoảng 9% đến 21% [1]. Những vấn đề sức khỏe tâm thần này không chỉ làm suy giảm chất lượng sống của người mẹ mà còn gây ra những hệ lụy đáng kể cho sự phát triển của thai nhi và trẻ sơ sinh [1].
Mặc dù thuốc chống trầm cảm vẫn được sử dụng phổ biến trong thai kỳ, nhiều nghiên cứu đã dấy lên lo ngại về các kết quả bất lợi đối với hành vi thần kinh của trẻ sơ sinh khi tiếp xúc với thuốc từ trong bụng mẹ [3]. Chính vì vậy, việc tìm kiếm các giải pháp hỗ trợ an toàn như bổ sung axit béo không bão hòa đa chuỗi dài Omega-3 (từ thực vật và sinh vật biển) nhận được sự quan tâm lớn của giới y học [4].
Về mặt sinh học, phụ nữ rất dễ bị cạn kiệt nguồn dự trữ axit béo không bão hòa đa Omega-3 trong suốt giai đoạn chu sinh (từ khi mang thai đến sau sinh) do cơ thể ưu tiên chuyển nguồn dưỡng chất này sang nuôi dưỡng thai nhi [5]. Trong khi đó, nhiều bằng chứng khoa học đã chỉ ra rằng sự suy giảm nồng độ axit béo Omega-3 và sự bất thường trong thành phần axit béo có liên quan mật thiết đến các rối loạn khí sắc và trầm cảm nói chung [5]. Hai thành phần quan trọng nhất của nhóm chất này là axit docosahexaenoic (DHA) và axit eicosapentaenoic (EPA) [6]. Ngoài ra, các nhà khoa học cũng đặc biệt chú ý đến tỷ lệ giữa axit béo Omega-6 và Omega-3 (n-6:n-3) trong máu người mẹ [1].
Nồng độ Omega-3 trong máu phản ánh điều gì về tâm trạng thai phụ?
Để làm rõ mối liên hệ giữa axit béo và tâm trạng, các nhà khoa học đã tiến hành nhiều nghiên cứu quan sát thông qua xét nghiệm máu của thai phụ. Một nghiên cứu bệnh - chứng công bố năm 2009 đã khảo sát 16 phụ nữ bị trầm cảm và 22 phụ nữ không bị trầm cảm trong tam cá nguyệt thứ ba của thai kỳ thông qua phân tích mẫu máu lúc đói [5]. Kết quả cho thấy những phụ nữ có nồng độ DHA cao, tổng lượng Omega-3 cao và tỷ lệ Omega-6 trên Omega-3 thấp có nguy cơ mắc trầm cảm thấp hơn đáng kể, ngay cả khi đã điều chỉnh theo độ tuổi, trình độ học vấn và số lần sinh nở [5]. Đáng chú ý, nhóm nghiên cứu định lượng được rằng những thai phụ có mức Omega-3 thấp có nguy cơ bị trầm cảm trước sinh cao gấp 6 lần so với nhóm có mức Omega-3 cao hơn [5].
Một nghiên cứu quy mô lớn hơn công bố năm 2015 đã phỏng vấn hơn 900 phụ nữ vào giai đoạn cuối thai kỳ và theo dõi tiếp trong 3 tháng sau sinh [6]. Các nhà khoa học lấy máu phân tích 9 biến số axit béo, đồng thời đánh giá trầm cảm bằng cả tiêu chuẩn chẩn đoán lâm sàng (DSM-IV) lẫn thang đo sàng lọc trầm cảm sau sinh Edinburgh (EPDS) [6]. Phân tích đơn biến cho thấy tình trạng trầm cảm trước sinh (theo tiêu chuẩn DSM-IV) có liên quan đến tổng lượng Omega-3, tỷ lệ Omega-6:Omega-3, nồng độ DHA và tổng DHA cộng EPA trong máu [6]. Tuy nhiên, đối với giai đoạn sau sinh, sau khi đã tính đến các yếu tố như tính cách dễ bất ổn cảm xúc, căng thẳng khi mang thai, tiền sử trầm cảm và tuổi tác, trạng thái axit béo cuối thai kỳ chỉ còn liên quan rất nhẹ với điểm số trầm cảm trên thang EPDS (liên quan đến mức Omega-3 thấp, EPA thấp và Omega-6 cao) và hoàn toàn không liên quan đến trầm cảm sau sinh được chẩn đoán theo tiêu chuẩn DSM-IV [6].
Gần đây hơn, một nghiên cứu năm 2020 đã đo nồng độ axit béo trong hồng cầu của người mẹ ở tuần thai thứ 32 và trong sữa mẹ ở tuần đầu tiên sau sinh [1]. Nghiên cứu bao gồm 27 phụ nữ mang thai được chẩn đoán rối loạn trầm cảm chủ yếu (9 người), rối loạn lo âu (10 người), hoặc hỗn hợp lo âu - trầm cảm (8 người) và so sánh với 40 thai phụ khỏe mạnh [1]. Kết quả xác nhận những thai phụ bị trầm cảm (đơn thuần hoặc kèm lo âu) có nồng độ tổng Omega-3, EPA, DHA và DGLA trong hồng cầu thấp hơn đáng kể, đồng thời có tỷ lệ Omega-6:Omega-3 và tỷ lệ AA:EPA cao hơn nhiều so với nhóm khỏe mạnh [1]. Dù vậy, nghiên cứu không tìm thấy mối liên hệ nào giữa hàm lượng các axit béo này trong sữa mẹ với chứng trầm cảm hay lo âu [1]. Sau khi kiểm soát yếu tố sức khỏe tâm thần từ lúc mang thai, nồng độ axit béo trong máu và sữa mẹ cũng không liên quan đáng kể đến trầm cảm sau sinh [1].
Uống viên bổ sung Omega-3 có trị được trầm cảm?
Mặc dù các nghiên cứu quan sát thấy mối liên hệ rõ ràng giữa việc ăn cá hoặc nồng độ Omega-3 trong máu với triệu chứng trầm cảm, nhưng các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng (RCT) nhằm đánh giá hiệu quả của viên uống bổ sung Omega-3 lại cho kết quả không đồng nhất [2].
Bằng chứng mạnh mẽ nhất tính đến năm 2014 là một thử nghiệm ngẫu nhiên, mù đôi, đa trung tâm quy mô rất lớn trên 2.399 phụ nữ trong nửa sau thai kỳ [2]. Những người tham gia được chia ngẫu nhiên để uống dầu cá (chứa 800 mg DHA và 100 mg EPA mỗi ngày) hoặc dầu thực vật giả dược [2]. Kết quả đánh giá bằng thang đo EPDS tại thời điểm 6 tuần và 6 tháng sau sinh cho thấy triệu chứng trầm cảm không có sự khác biệt giữa hai nhóm, và sự phát triển thần kinh của trẻ ở thời điểm 18 tháng tuổi cũng không khác nhau [2].
Các nghiên cứu nhỏ hơn cũng ghi nhận những kết quả trái chiều. Trong hai nghiên cứu thí điểm ban đầu, thử nghiệm thứ nhất (nhãn mở, liều linh hoạt kết hợp EPA và DHA trên 15 thai phụ bị trầm cảm chủ yếu) ghi nhận mức giảm trung bình 40,9% triệu chứng trầm cảm trên thang EPDS [7]. Tuy nhiên, thử nghiệm thứ hai kéo dài 8 tuần với các mức liều khác nhau trên 16 phụ nữ trầm cảm sau sinh lại không thấy sự khác biệt giữa các nhóm, và cả hai nghiên cứu này đều bị giới hạn do cỡ mẫu quá nhỏ và không có nhóm dùng giả dược đối chứng [7].
Để khắc phục hạn chế đó, một thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng giả dược năm 2008 đã khảo sát 59 phụ nữ mắc trầm cảm chu sinh (trong đó 51 người có đủ dữ liệu đánh giá) [8]. Những người tham gia được uống 1,9 gram EPA và DHA mỗi ngày hoặc giả dược trong vòng 8 tuần, kết hợp với liệu pháp tâm lý hỗ trợ theo quy chuẩn cho tất cả mọi người [8]. Kết quả cho thấy cả hai nhóm đều giảm đáng kể điểm trầm cảm (trên thang EPDS và HAM-D), nhưng viên uống Omega-3 không mang lại lợi ích vượt trội nào so với giả dược [8]. Các tác giả nhận định rằng cỡ mẫu nhỏ, thời gian ngắn, liều lượng hoặc chính lợi ích rõ rệt của liệu pháp tâm lý hỗ trợ có thể đã làm lu mờ tác dụng riêng biệt của Omega-3 [7], [8].
Ở chiều ngược lại, vẫn có những tín hiệu khả quan khi dùng liều cao hoặc đúng đối tượng. Một thử nghiệm nhỏ (36 người) ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng giả dược đã tìm thấy lợi ích đáng kể của Omega-3 so với giả dược trong việc điều trị trầm cảm khi mang thai [2]. Một thử nghiệm tương tự khác sử dụng Omega-3 đơn trị liệu với liều cao 3,4 gram mỗi ngày cho chứng trầm cảm chủ yếu trong thai kỳ cũng chứng minh được hiệu quả giảm điểm trầm cảm rõ rệt so với nhóm giả dược, dù tỷ lệ bỏ cuộc ở cả hai nhóm khá cao [7]. Bên cạnh đó, do các thử nghiệm can thiệp gợi ý rằng EPA có thể mang lại lợi ích lâm sàng rõ hơn DHA, một thiết kế nghiên cứu công bố năm 2011 trên 126 thai phụ dưới 20 tuần có nguy cơ trầm cảm đã được triển khai nhằm so sánh trực tiếp dầu cá giàu EPA (1.060 mg EPA + 274 mg DHA) với dầu cá giàu DHA (900 mg DHA + 180 mg EPA) và giả dược cho đến 6 tuần sau sinh [3].
Giải mã những hiểu lầm thường gặp
Hiểu lầm phổ biến đầu tiên là cứ uống thật nhiều viên DHA dưỡng thai thì sẽ hoàn toàn miễn nhiễm với trầm cảm sau sinh. Thực tế từ thử nghiệm trên 2.399 bà bầu cho thấy việc bổ sung 800 mg DHA và 100 mg EPA mỗi ngày ở nửa cuối thai kỳ không làm giảm triệu chứng trầm cảm sau sinh so với giả dược [2]. Hơn nữa, các nhà khoa học lưu ý rằng trong khi sự thiếu hụt DHA liên quan đến sự khởi phát trầm cảm trong các nghiên cứu quan sát, thì các thử nghiệm can thiệp lại cho thấy thành phần EPA mới là yếu tố mang lại nhiều lợi ích lâm sàng hơn trong điều trị trầm cảm [3].
Hiểu lầm thứ hai là có thể dùng dầu cá để thay thế hoàn toàn thuốc men hoặc trị liệu tâm lý. Các bằng chứng hiện tại khẳng định dữ liệu lâm sàng về việc dùng Omega-3 điều trị trầm cảm vẫn còn hạn chế, quy mô nhỏ và kết quả chưa nhất quán [4], [2]. Trong khi đó, liệu pháp tâm lý hỗ trợ đã chứng minh khả năng làm giảm đáng kể các thang điểm trầm cảm ở phụ nữ mang thai và sau sinh [8]. Do đó, Omega-3 không phải là "thần dược" thay thế các phác đồ y khoa tiêu chuẩn.
Ai nên thận trọng khi bổ sung Omega-3 trong thai kỳ?
Nhìn chung, các chế phẩm bổ sung axit béo Omega-3 được dung nạp rất tốt ở phụ nữ mang thai và sau sinh [2], [8]. Các sản phẩm tiêu chuẩn trên thị trường hiện nay cũng cho thấy độ an toàn cao, không chứa hàm lượng thủy ngân hay các chất gây ô nhiễm ở mức đáng kể [2].
Tuy nhiên, việc bổ sung liều cao cần có sự giám sát y tế chặt chẽ. Trong thử nghiệm quy mô lớn trên 2.399 thai phụ, mặc dù nhóm bổ sung DHA (800 mg/ngày kèm 100 mg EPA) giúp giảm tỷ lệ sinh cực non (dưới 34 tuần tuổi thai), nhưng nhóm này lại ghi nhận nhiều ca thai quá ngày dự sinh cần phải can thiệp sản khoa hơn so với nhóm dùng giả dược [2]. Vì vậy, phụ nữ mang thai, đặc biệt là những người vào giai đoạn cuối thai kỳ, người có tiền sử sản khoa phức tạp, có bệnh nền hoặc đang sử dụng thuốc chống trầm cảm cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi tự ý dùng các viên uống bổ sung hàm lượng cao.
Áp dụng thực tế thế nào cho hiệu quả và an toàn?
Thực tế khảo sát cho thấy lượng tiêu thụ axit béo Omega-3 từ chế độ ăn uống hàng ngày của các bà bầu bị trầm cảm thường ở mức đáng lo ngại, trong khi dưỡng chất này vốn đã được chứng minh là mang lại nhiều lợi ích sức khỏe quan trọng cho thai nhi trong tử cung và trẻ sơ sinh [8]. Việc duy trì một chế độ ăn cân bằng, tăng cường các thực phẩm tự nhiên giàu Omega-3 từ nguồn biển và thực vật, đồng thời hạn chế chất béo bão hòa và kiểm soát lượng dầu ăn giàu Omega-6 (để giữ tỷ lệ Omega-6:Omega-3 ở mức thấp) là nền tảng dinh dưỡng an toàn nhất cho mọi thai phụ [5], [4].
Đối với những phụ nữ đang gặp tình trạng trầm cảm chu sinh, dựa trên các dữ liệu tích cực từ những phân tích gộp, các nhà chuyên môn khuyến nghị mức tiêu thụ hợp lý là 1 gram tổng lượng EPA cộng DHA mỗi ngày [2]. Thay vì dùng đơn lẻ, cách tiếp cận hợp lý nhất hiện nay là sử dụng Omega-3 như một liệu pháp bổ trợ (augmentation) kết hợp cùng các phương pháp điều trị tiêu chuẩn khác như tâm lý trị liệu dưới sự theo dõi của bác sĩ chuyên khoa [2], [8].
Tóm lại, sự sụt giảm Omega-3 trong cơ thể người mẹ có mối liên hệ chặt chẽ với nguy cơ trầm cảm khi mang thai, nhưng viên uống dầu cá không thể một mình giải quyết triệt để căn bệnh này. Bà bầu nên chủ động bồi đắp Omega-3 qua bữa ăn hàng ngày và tham vấn bác sĩ về liều lượng bổ sung phù hợp. Quan trọng hơn cả, đừng ngần ngại tìm kiếm sự hỗ trợ tâm lý và y tế chuyên nghiệp ngay khi nhận thấy những dấu hiệu bất ổn về cảm xúc.




