Dưa gang tây (tên khoa học Passiflora quadrangularis) là loại cây quen thuộc tại nhiều vùng quê Việt Nam, thường được trồng lấy quả làm nước giải khát hoặc dùng lá, thân làm thảo dược dân gian. Nhiều người bệnh tăng huyết áp truyền tai nhau kinh nghiệm dùng dịch chiết dưa gang tây để hỗ trợ kiểm soát chỉ số huyết áp hằng ngày. Tuy nhiên, việc tự ý kết hợp thảo dược này cùng thuốc kê đơn tiềm ẩn nguy cơ xuất hiện tương tác thuốc bất lợi.
Hiện nay chưa có thử nghiệm lâm sàng trực tiếp trên người đánh giá cơ chế hiệp đồng hạ áp giữa dịch chiết dưa gang tây và thuốc điều trị tăng huyết áp. Dữ liệu khoa học hiện có trên loài cây này mới dừng lại ở các nghiên cứu chiết xuất trong phòng thí nghiệm về thành phần saponin gây tan máu hoặc hàm lượng phenolic chống oxy hóa [1, 5]. Vì vậy, việc dùng chung thảo dược chưa được chuẩn hóa liều lượng với thuốc hạ áp đòi hỏi người bệnh phải hết sức cẩn trọng.
Tương tác thuốc hạ áp: Vấn đề thường gặp nhưng dễ bỏ qua
Tương tác thuốc điều trị tăng huyết áp có thể mang lại kết quả có lợi hoặc gây nguy hiểm, trong đó các tương tác bất lợi tuy tương đối ít gặp nhưng bắt buộc phải nhận biết để chủ động phòng tránh [1]. Khi người bệnh phối hợp nhiều hoạt chất cùng lúc, dược lực học hoặc dược động học của thuốc điều trị có thể bị biến đổi sâu sắc.
Quá trình chuyển hóa thuốc là điểm then chốt dễ phát sinh tương tác. Nhiều loại thuốc điều trị huyết áp được chuyển hóa tại gan thông qua enzym microsom cytochrome P450 đồng dạng 3A4 (CYP3A4) [2]. Nếu một chất dùng kèm gây cảm ứng hoặc ức chế hệ enzym này, nồng độ thuốc hạ áp trong máu sẽ thay đổi rõ rệt [2, 4]. Chẳng hạn, chất ức chế enzym CYP3A như fluconazole làm chậm quá trình chuyển hóa amlodipine, dẫn đến tích tụ nồng độ thuốc và làm tăng nguy cơ tụt huyết áp nghiêm trọng [3].
Ngược lại, các thuốc gây cảm ứng enzym như rifampicine hoặc nhóm thuốc chống co giật (phenobarbital, phenytoin, carbamazepine) lại làm giảm đáng kể thời gian bán thải của thuốc hạ áp [2]. Báo cáo lâm sàng ghi nhận bệnh nhân 49 tuổi bị tăng huyết áp nặng và bệnh nhân 64 tuổi tăng huyết áp nguyên phát kháng trị đều không kiểm soát được huyết áp khi dùng chung thuốc hạ áp với carbamazepine [2]. Chỉ sau khi ngừng carbamazepine hoặc thay thế bằng vigabatrin, chỉ số huyết áp của hai bệnh nhân này mới trở về mức an toàn [2].
Khoa học thực nghiệm ghi nhận gì về dưa gang tây?
Cây dưa gang tây (Passiflora quadrangularis L.) từ lâu đã thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu thực vật học nhờ nguồn hoạt chất phong phú [1, 5]. Tuy nhiên, các báo cáo khoa học chủ yếu khai thác đặc tính hóa sinh học cơ bản thay vì tác dụng hạ áp trên cơ thể sống.
Một nghiên cứu công bố năm 2005 đã lần đầu tiên chứng minh sự hiện diện của một chất gây tan máu (hemolysin) trong lá dưa gang tây [4]. Hoạt chất này bền nhiệt, kháng lại xử lý bằng enzyme trypsin, có khả năng tạo bọt và tác động rất nhanh [4]. Phân tích động học cho thấy hoạt tính tan máu phụ thuộc vào liều dùng, thể hiện qua hệ số góc lớn hơn 1 trên đồ thị logarit kép [4].
Khi thử nghiệm các cơ chế ức chế, chất polyethylene glycol trọng lượng phân tử cao làm giảm tốc độ tan máu, trong khi các hạt liposome chứa cholesterol ức chế hoàn toàn quá trình này [4]. Ngược lại, liposome chỉ chứa phosphatidylcholine không mang lại hiệu quả bảo vệ [4]. Chất gây tan máu từ dưa gang tây làm tăng đáng kể độ dẫn truyền của màng lipid phẳng chứa cholesterol nhưng vô hiệu trên màng không chứa cholesterol [4].
Quy trình chiết xuất kế tiếp bằng n-hexane, chloroform, ethyl acetate và n-butanol giúp tinh sạch chất gây tan máu lên gấp 10 lần, với toàn bộ hoạt tính được thu hồi ở phân đoạn n-butanol [4]. Các đặc tính gồm khả năng tạo bọt, phản ứng màu dương tính với vanillin, độ chiết chọn lọc trong n-butanol, sắc ký lỏng hiệu năng cao HPLC, ái lực tạo phức bền vững với màng tế bào chứa cholesterol chỉ ra rằng hoạt chất này có bản chất là một saponin [4].
Một công bố khác vào năm 2014 thực hiện đánh giá hàm lượng phenolic tổng số (TPC), hoạt tính chống oxy hóa và kháng khuẩn từ lá và thân của ba loài chanh leo: P. quadrangularis, P. maliformis, và P. edulis thông qua ba loại dung môi chiết xuất gồm ether dầu mỏ, axeton và metanol [5]. Hiệu suất chiết xuất tối đa các thành phần chống oxy hóa từ thân cây Passiflora quadrangularis đạt mức 9,76% khi dùng dung môi metanol [5]. Trong số các mẫu dịch chiết thân cây, dịch chiết metanol của dưa gang tây sở hữu lượng phenolic cao nhất và có hoạt tính chống oxy hóa mạnh nhất [5].
Về khả năng kháng khuẩn thử nghiệm bằng phương pháp khuếch tán đĩa thạch trên 10 chủng vi khuẩn gây bệnh ở người, dịch chiết các loài Passiflora thể hiện khả năng ức chế rõ rệt đối với vi khuẩn Gram dương nhưng không hiệu quả trước vi khuẩn Gram âm [5]. Về mùi hương thực vật, nghiên cứu năm 2016 phân tích 5 loài Passiflora tại Brazil chỉ ra thành phần chính cấu tạo nên hương hoa dưa gang tây là geraniol [6].
Hiệp đồng hạ áp: Nguy cơ khi phối hợp không kiểm soát
Cơ chế hiệp đồng xảy ra khi tác dụng phối hợp giữa hai hay nhiều chất làm tăng cường hiệu quả chung vượt mức từng chất riêng lẻ. Đối với bệnh nhân tim mạch, sự cộng gộp vô tình từ các thảo dược chưa được định lượng có thể dẫn đến hiện tượng tụt huyết áp quá mức, choáng váng hoặc rối loạn tư thế đứng.
Nghiên cứu lâm sàng tại bệnh viện giảng dạy tuyến cuối năm 2018 cho thấy rất nhiều cặp thuốc tim mạch thông thường tạo ra tương tác dược lực học phức tạp [3]. Cụ thể, aspirin làm giảm tổng hợp prostaglandin, từ đó làm giảm hiệu quả điều trị của các thuốc hạ áp phổ biến như enalapril, atenolol, furosemide, spironolactone, carvedilol và metoprolol [3]. Thuốc chống viêm không steroid diclofenac ức chế cyclooxygenase, làm giảm hiệu lực hạ áp của enalapril qua cơ chế trung gian prostaglandin và gia tăng nguy cơ suy giảm chức năng thận do ảnh hưởng huyết động học thận [3].
Ngoài ra, thuốc ức chế men chuyển phối hợp cùng sulfonylurea có thể làm tăng độ nhạy insulin thông qua cơ chế giãn mạch, dẫn đến hạ đường huyết ngoài ý muốn [3]. Trong điều trị tăng áp động mạch phổi, các nhóm thuốc như chẹn kênh calci, ức chế phosphodiesterase loại 5, đối kháng thụ thể endothelin luôn đòi hỏi theo dõi sát sao vì các tương tác dược động học và dược lực học xuất hiện với tần suất cao khi phối hợp [7].
Khi dùng dịch chiết dưa gang tây tự chế, người bệnh hoàn toàn không biết chính xác hàm lượng saponin hay dẫn xuất phenolic hấp thu vào cơ thể là bao nhiêu [1, 5]. Nếu dịch chiết vô tình làm biến đổi enzyme chuyển hóa hoặc tác động giãn mạch bổ trợ cùng thuốc kê đơn, huyết áp có thể tụt đột ngột.
Những hiểu lầm thường gặp về thảo dược dưa gang tây
Nhiều người lầm tưởng rằng các loại thảo dược tự nhiên như dưa gang tây luôn an toàn và có thể dùng thoải mái chung với thuốc tây y. Đây là quan niệm sai lầm phổ biến, bởi lẽ các dược chất tự nhiên vẫn tham gia vào chu trình chuyển hóa sinh học tại gan và thận, hoàn toàn có khả năng cản trở hoặc khuếch đại hoạt tính của dược phẩm [2, 4].
Một ngộ nhận khác là xem các nghiên cứu chiết xuất trong phòng thí nghiệm tương đương với hướng dẫn điều trị bệnh. Bằng chứng hiện có về dưa gang tây mới chỉ thực hiện trên màng lipid nhân tạo, hồng cầu động vật hoặc nuôi cấy vi khuẩn đĩa thạch [1, 5]. Hoàn toàn chưa có nghiên cứu theo dõi hiệu quả hạ áp hay mức độ an toàn của cây này trên cơ thể người bệnh tăng huyết áp. Do đó, tuyệt đối không được tự ý bỏ thuốc huyết áp bác sĩ kê đơn để thay thế bằng nước sắc dưa gang tây.
Bên cạnh đó, việc người bệnh mắc nhiều bệnh lý nền cùng lúc (như đái tháo đường, tim mạch) tự dùng thảo dược cũng khiến nguy cơ biến cố sức khỏe gia tăng. Nghiên cứu thực tế năm 2021 ghi nhận bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 cao tuổi dùng thuốc ức chế DPP-4 có nguy cơ tụt đường huyết nghiêm trọng phải cấp cứu truyền glucose khi dùng chung với thuốc hạ áp captopril hoặc bumetanide [8]. Uống thêm các dịch chiết thảo dược không rõ tương tác có thể làm trầm trọng thêm sự mất cân bằng này.
Nhóm đối tượng cần đặc biệt thận trọng
Người đang dùng các thuốc điều trị tăng huyết áp theo đơn bắt buộc phải thận trọng cao độ trước khi sử dụng dịch chiết hay các chế phẩm từ lá, thân dưa gang tây. Nguy cơ tương tác chưa được kiểm soát có thể khiến huyết áp dao động thất thường, gây khó khăn cho việc đánh giá phác đồ điều trị của bác sĩ chuyên khoa [2].
Người cao tuổi mắc bệnh mạn tính, bệnh nhân suy giảm chức năng gan, thận cần tuyệt đối tránh việc tự ý dùng nước lá dưa gang tây đậm đặc. Hoạt chất saponin trong lá cây có đặc tính gây tan màng lipid phụ thuộc nồng độ trên mô hình thí nghiệm, tiềm ẩn nguy cơ gây độc tính tế bào nếu tích tụ liều lượng lớn trong cơ thể suy yếu [4].
Phụ nữ mang thai và người bệnh chuẩn bị phẫu thuật cũng là nhóm đối tượng không nên sử dụng. Việc chưa có hồ sơ an toàn đầy đủ trên người đồng nghĩa với việc không thể dự đoán trước những rủi ro lên tuần hoàn thai nhi hay khả năng tương tác với thuốc gây mê, thuốc kiểm soát huyết động trong phòng mổ.
Lời khuyên áp dụng thực tế và an toàn
Nếu chỉ sử dụng dưa gang tây như một loại quả giải khát thông thường với phần thịt quả chín tươi, người bệnh tăng huyết áp vẫn có thể bổ sung với lượng vừa phải trong chế độ dinh dưỡng cân bằng. Thịt quả tươi chứa nước và vi chất tự nhiên, ít gây biến đổi sinh học đột ngột như các dạng dịch chiết cô đặc từ thân và lá [5, 8].
Tuyệt đối không tự ý đun sắc lá hay thân cây dưa gang tây để làm nước uống thay thuốc điều trị hằng ngày. Sự hiện diện của các saponin tạo bọt có khả năng phá hủy màng tế bào trong lá cây đòi hỏi quy trình chiết xuất và tinh chế chuyên môn cao chứ không thể áp dụng theo kinh nghiệm dân gian truyền miệng [4].
Mỗi khi đi khám định kỳ, người bệnh cần chủ động thông báo cho bác sĩ danh sách tất cả các loại thuốc kê đơn, thuốc không kê đơn và các sản phẩm trà thảo dược, cây thuốc nam đang dùng tại nhà. Khi phát hiện các dấu hiệu bất thường như hoa mắt, chóng mặt khi đổi tư thế, tim đập nhanh, vã mồ hôi, người bệnh cần dừng ngay việc dùng thảo dược và đến cơ sở y tế gần nhất để kiểm tra chỉ số huyết áp kịp thời.
Hiểu rõ nguy cơ tương tác giữa thảo dược và dược phẩm giúp người bệnh bảo vệ an toàn cho hệ tim mạch. Sử dụng dưa gang tây đúng mục đích dinh dưỡng và tuân thủ chặt chẽ chỉ định điều trị của nhân viên y tế là nguyên tắc sống còn để duy trì huyết áp ổn định lâu dài.






