Thời tiết giao mùa, cảm giác ngứa họng, sụt sịt mũi xuất hiện khiến nhiều người nghĩ ngay đến việc tìm kiếm viên ngậm kẽm. Loại vi chất này từ lâu được truyền tai như giải pháp cắt cơn cảm lạnh nhanh chóng. Tuy nhiên, không ít người dùng kẽm đến ngày thứ tư hoặc thứ năm của bệnh nhưng không thấy cải thiện.

Câu trả lời nằm ở thời điểm bổ sung: kẽm chỉ phát huy hiệu quả hỗ trợ điều trị khi được dùng thật sớm, lý tưởng nhất là trong vòng 24 giờ đầu tiên kể từ khi xuất hiện triệu chứng khởi phát [1], [2]. Nếu bỏ lỡ mốc thời gian vàng này, hoạt tính ngăn chặn virus và rút ngắn đợt bệnh của kẽm gần như không còn rõ rệt [3].

Vì sao kẽm cần mốc "giờ vàng" 24 tiếng?

Cảm lạnh thông thường do các virus đường hô hấp xâm nhập vào niêm mạc mũi họng gây nên. Khi virus vừa bám dính, chúng bắt đầu nhân lên nhanh chóng và kích hoạt phản ứng viêm tại chỗ, dẫn đến ngứa họng, hắt hơi và nghẹt mũi.

Tác dụng của kẽm đối với bệnh cảm lạnh phụ thuộc trực tiếp vào nồng độ ion kẽm tự do được giải phóng tại khoang miệng và hầu họng [4], [5]. Ở mức độ sinh hóa, kẽm cần được ion hóa ở môi trường khoang miệng (độ pH khoảng 7,4) để phát huy hoạt tính sinh học [2]. Đồng thời, sự cải thiện các triệu chứng lâm sàng khi dùng kẽm có thể liên quan đến khả năng làm giảm các chất trung gian gây viêm (proinflammatory cytokines) [6].

Do đó, đưa kẽm vào cơ thể trong vòng 24 giờ đầu giúp chặn đứng sự phát triển của virus ngay từ giai đoạn bùng phát ban đầu [1], [2]. Nếu đợi sau vài ngày, khi virus đã nhân bản ồ ạt và phản ứng viêm đã lan rộng toàn thân, việc bổ sung kẽm ngậm tại chỗ sẽ giảm đáng kể giá trị điều trị [3].

Bằng chứng khoa học về cửa sổ thời gian

Nhiều phân tích tổng hợp và thử nghiệm lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên đã làm rõ giới hạn thời gian mang tính quyết định này:

Một tổng quan hệ thống năm 1998 tập hợp 7 thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng (RCT) mù đôi đánh giá hiệu quả của viên ngậm kẽm gluconate [4]. Kết quả cho thấy việc bắt đầu điều trị bằng viên ngậm kẽm gluconate trong vòng 24 đến 48 giờ kể từ khi khởi phát triệu chứng giúp giảm cả thời gian mắc và mức độ nghiêm trọng của cảm lạnh [4]. Liều tối thiểu có hiệu quả được ghi nhận là 13,3 mg kẽm nguyên tố cho mỗi viên ngậm, yêu cầu người bệnh ngậm mỗi 2 giờ một lần trong thời gian thức [4].

Đến năm 2000, một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, mù đôi, đối chứng giả dược tại Detroit (Mỹ) tiến hành trên 50 người tình nguyện, trong đó 48 người hoàn thành nghiên cứu (25 người nhóm kẽm, 23 người nhóm giả dược) [6]. Tiêu chí tuyển chọn nghiêm ngặt là người bệnh phải bắt đầu trong vòng 24 giờ kể từ khi xuất hiện triệu chứng cảm lạnh [6]. Bệnh nhân dùng viên ngậm chứa 12,8 mg kẽm acetate hoặc giả dược cách nhau 2-3 giờ trong thời gian thức [6]. Kết quả cho thấy nhóm dùng kẽm có thời gian kéo dài triệu chứng trung bình ngắn hơn đáng kể so với nhóm giả dược (4,5 ngày so với 8,1 ngày), đặc biệt thời gian ho giảm từ 6,3 ngày xuống 3,1 ngày và chảy nước mũi giảm từ 5,8 ngày xuống 4,1 ngày [6].

Năm 2015, một phân tích gộp đánh giá tác dụng của viên ngậm kẽm acetate liều cao trên các triệu chứng cảm lạnh đã chỉ ra rằng, 2 trong số 3 thử nghiệm được đưa vào phân tích chỉ tuyển chọn những người có triệu chứng dưới 24 giờ [3]. Nghiên cứu thứ ba tuy không mô tả cụ thể thời gian ủ bệnh nhưng phần lớn người tham gia cũng bắt đầu dùng ngay ngày đầu tiên ghi danh [3]. Các tác giả nhận định, lợi ích quan sát được của kẽm có thể đã không xuất hiện nếu khoảng thời gian từ lúc phát bệnh đến lúc can thiệp kéo dài hơn một ngày [3].

Phân tích tổng hợp dữ liệu cá thể bệnh nhân (IPD) năm 2017 trên các thử nghiệm ngẫu nhiên, mù đôi, đối chứng giả dược cũng kết luận rằng viên ngậm kẽm acetate với liều kẽm nguyên tố trên 75 mg mỗi ngày có thể làm tăng tốc độ hồi phục lên gấp 3 lần [1]. Tác dụng tích cực này được ghi nhận khi người bệnh bắt đầu ngậm kẽm trong vòng 24 giờ kể từ lúc khởi phát triệu chứng [1].

Nghiên cứu tổng quan năm 2013 cũng nhấn mạnh: để tối ưu hóa hiệu quả điều trị của kẽm đối với bệnh cảm thông thường, liệu trình bắt buộc phải được khởi động trong vòng 24 giờ đầu kể từ khi có triệu chứng, đồng thời tổng liều kẽm nguyên tố mỗi ngày cần đạt trên 75 mg [2].

Liều lượng và dạng dùng: Những con số cần lưu ý

Không phải loại kẽm nào hay liều lượng nào cũng mang lại hiệu quả chữa cảm lạnh. Dữ liệu khoa học cho thấy sự khác biệt rất lớn giữa các chế phẩm và liều dùng:

Về liều lượng, một phân tích tổng hợp từ 13 nghiên cứu có đối chứng giả dược chỉ ra rằng 5 thử nghiệm dùng tổng liều kẽm dưới 75 mg/ngày hoàn toàn không ghi nhận hiệu quả điều trị cảm lạnh [2]. Ngược lại, 3 thử nghiệm dùng kẽm acetate với liều trên 75 mg/ngày đã giúp giảm 42% thời gian mắc bệnh [2]. Năm thử nghiệm dùng các muối kẽm khác (ngoài acetate) với liều trên 75 mg/ngày cũng giúp rút ngắn 20% thời gian bệnh [2]. Trong các nghiên cứu sử dụng kẽm acetate liều cao, tổng liều dao động từ 80 đến 92 mg kẽm nguyên tố mỗi ngày, hoặc trên 75 mg đến tối đa không quá 100 mg mỗi ngày [1], [3].

Về dạng bào chế, các bằng chứng lâm sàng chỉ ủng hộ dạng viên ngậm tan chậm trong miệng để giải phóng ion kẽm tại chỗ [1], [4], [7]. Trong một nghiên cứu của Petrus và cộng sự năm 1998 trên 101 bệnh nhân, viên ngậm kẽm acetate 9 mg được nén để ngậm tan trong miệng suốt 15 phút, dùng cách nhau 1,5 giờ vào ngày đầu và mỗi 2 giờ vào các ngày tiếp theo (khoảng 9,9 viên/ngày), giúp rút ngắn thời gian bệnh từ 5,1 ngày xuống 3,8 ngày [8]. Một nghiên cứu khác năm 2000 dùng viên nén kẽm acetate 12,8 mg hòa tan trong 30 phút, dùng cách nhau 2-3 giờ (trung bình 6,25 viên/ngày) [8].

Một phân tích gộp năm 2016 trên 199 bệnh nhân (phần lớn là nữ, 80% trong độ tuổi 20-50) cho thấy viên ngậm kẽm acetate giúp giảm thời gian cảm lạnh trung bình khoảng 2,73 đến 2,94 ngày so với thời gian bệnh trung bình 7 ngày ở nhóm chứng [7]. Hiệu quả này đồng nhất trên nhiều nhóm đối tượng, không bị thay đổi bởi tình trạng dị ứng, hút thuốc, mức độ nặng ban đầu, tuổi tác hay giới tính [1], [7].

Sai lầm phổ biến khi dùng kẽm trị cảm

Hiểu lầm lớn nhất của người dùng là uống viên kẽm nuốt trọn với nước. Các nghiên cứu đều chỉ ra cơ chế trị cảm của kẽm là tác động tại chỗ của ion kẽm ở vùng hầu họng, vì vậy dạng viên nuốt thông thường không đem lại hiệu quả tương đương viên ngậm [4], [2].

Sai lầm thứ hai nằm ở thành phần phụ gia trong viên ngậm. Phần lớn viên ngậm kẽm phổ biến trên thị trường chứa liều kẽm quá thấp hoặc chứa các hoạt chất kết tủa, liên kết với ion kẽm tự do như axit citric (citric acid), sorbitol, mannitol, glycine hay tartarate [1], [4], [2]. Khi kẽm bị các chất này gắn kết, ion kẽm tự do không được giải phóng tại niêm mạc miệng, làm mất đi tác dụng trị liệu [1], [4], [2].

Sai lầm thứ ba là lạm dụng dạng xịt mũi chứa kẽm. Một thử nghiệm lâm sàng năm 2006 ngẫu nhiên, mù đôi, đối chứng giả dược trên 77 tình nguyện viên đã sử dụng thuốc xịt mũi kẽm gluconate (10 mmol) mỗi 15-30 phút kết hợp viên ngậm kẽm orotate [5]. Kết quả sau 7 ngày cho thấy tỷ lệ hết triệu chứng ở nhóm kẽm là 63% (10/16 người), không khác biệt có ý nghĩa thống kê so với 53% (9/17 người) ở nhóm giả dược (P = 0,57) [5]. Không những không giảm thời gian hay mức độ bệnh, thuốc xịt mũi chứa kẽm còn gây đau vùng khứu giác ở một số bệnh nhân [5]. Nghiên cứu nhấn mạnh nguy cơ gây mất khứu giác vĩnh viễn (anosmia) từ các dạng xịt hoặc gel kẽm đưa vào hốc mũi, đồng thời kết luận không có lý do gì để khuyến cáo dùng kẽm gluconate xịt mũi hay viên ngậm kẽm orotate cho bệnh cảm [5].

Ai nên thận trọng khi dùng kẽm?

Dù kẽm acetate hay kẽm gluconate mang lại lợi ích nhất định, người dùng cần lưu ý các tác dụng phụ thường gặp. Vị khó chịu trong miệng và cảm giác buồn nôn là hai tác dụng phụ quan trọng có thể làm giảm sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân [4].

Tại Mỹ, lượng kẽm khuyến nghị hàng ngày (RDA) theo chế độ ăn chỉ là 11 mg/ngày đối với nam giới và 8 mg/ngày đối với nữ giới [3]. Liều dùng trong các đợt điều trị cảm lạnh bằng viên ngậm kẽm acetate (từ 80 đến 92 mg/ngày, hoặc trên 75 mg đến 100 mg/ngày) cao hơn rất nhiều so với nhu cầu dinh dưỡng hàng ngày [1], [3]. Dù các đợt dùng kẽm liều cao ngắn ngày cho cảm lạnh có nguy cơ tác dụng phụ thấp [1], việc bổ sung liều cao kéo dài cần hết sức thận trọng vì dùng kẽm liều 150 mg/ngày trong nhiều tháng có thể làm giảm nồng độ đồng trong cơ thể [3].

Người có bệnh lý nền về dạ dày, phụ nữ mang thai hoặc người đang sử dụng các loại thuốc điều trị bệnh mạn tính cần tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc dược sĩ trước khi tự ý dùng kẽm liều cao. Tuyệt đối không dùng kẽm để thay thế cho chỉ định điều trị y khoa khi xuất hiện các triệu chứng nhiễm khuẩn hô hấp nặng. Nếu triệu chứng cảm lạnh không cải thiện rõ rệt sau 3 ngày dùng viên ngậm kẽm, người bệnh nên đến cơ sở y tế khám để loại trừ khả năng bội nhiễm vi khuẩn [8].

Hướng dẫn áp dụng thực tế đúng cách

Để áp dụng phương pháp này an toàn và hiệu quả trong đời sống hàng ngày, người dùng cần ghi nhớ các nguyên tắc thực hành sau:

Trước hết, cần chuẩn bị sẵn sàng và hành động sớm. Ngay khi nhận thấy những biểu hiện đầu tiên như rát họng, ngứa mũi hoặc hắt hơi liên tục, cần bắt đầu ngậm kẽm ngay trong ngày đầu tiên, tốt nhất không vượt quá mốc 24 giờ [1], [2]. Nếu đã bước sang ngày thứ ba hoặc thứ tư của đợt bệnh, việc bổ sung kẽm ngậm không còn mang lại nhiều lợi ích rõ rệt [3].

Thứ hai, lựa chọn đúng dạng muối và kiểm tra thành phần. Nên ưu tiên chọn viên ngậm chứa kẽm acetate hoặc kẽm gluconate [4], [2]. Cần đọc kỹ nhãn sản phẩm để tránh các loại viên ngậm có chứa thành phần axit citric, glycine, tartarate, sorbitol hoặc mannitol vì chúng vô hiệu hóa ion kẽm có lợi [4], [2].

Thứ ba, tuân thủ đúng liều lượng và tần suất. Liều lượng kẽm nguyên tố tối thiểu cần đạt trên 75 mg mỗi ngày và không vượt quá 100 mg mỗi ngày [1], [2]. Người bệnh nên chia nhỏ cữ ngậm, cách mỗi 2 đến 3 giờ ngậm một viên trong thời gian thức [4], [6], [8]. Để viên kẽm tan tự nhiên từ từ trong miệng trong khoảng 15 đến 30 phút, không nhai nát hoặc nuốt chửng ngay [8].

Bên cạnh việc sử dụng kẽm, người bệnh vẫn cần duy trì chế độ nghỉ ngơi đầy đủ, uống nhiều nước ấm, súc họng bằng nước muối sinh lý và giữ ấm cơ thể. Kẽm chỉ là một công cụ hỗ trợ rút ngắn thời gian phát bệnh, không thể thay thế cho lối sống lành mạnh và sự theo dõi y tế cần thiết khi bệnh diễn tiến phức tạp.