Mì tôm là món ăn quen thuộc trong bữa ăn hàng ngày nhờ tính tiện lợi và hương vị đậm đà. Tuy nhiên, người bị tăng huyết áp hoặc có bệnh lý tim mạch thường lo ngại món ăn này làm tăng huyết áp đột ngột.

Thực tế, người tăng huyết áp nên hạn chế tối đa việc tiêu thụ mì tôm thông thường. Trong trường hợp thỉnh thoảng sử dụng, người bệnh cần điều chỉnh giảm đáng kể lượng gia vị nêm vào và không húp cạn nước dùng.

Gánh nặng natri ẩn sau vị đậm đà của mì tôm

Lượng muối ăn cao là nguyên nhân phổ biến kích hoạt tình trạng tăng huyết áp và tăng nguy cơ tai biến tim mạch [1]. Bệnh tim mạch gây ra 17,5 triệu ca tử vong trên toàn cầu vào năm 2012, trong đó huyết áp cao là yếu tố nguy cơ hàng đầu [1]. Việc giảm tiêu thụ muối được xem là biện pháp can thiệp ưu tiên của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) [1].

Thực phẩm chế biến sẵn đóng góp tới khoảng 80% lượng muối trong chế độ ăn tại các nước thu nhập cao và đang tăng nhanh ở các quốc gia khác [1]. Khi cơ thể nạp quá nhiều muối, khả năng bài tiết của thận bị quá tải [2]. Nồng độ natri huyết tương tăng cao dẫn đến giữ nước trong lòng mạch, làm tăng thể tích tuần hoàn và đẩy huyết áp lên mức nguy hiểm [2].

Một bát mì tôm ăn liền thường chứa đồng thời lượng carbohydrate, chất béo và lượng natri rất lớn [2]. Người ăn nhiều mì tôm cũng có xu hướng dung nạp nhiều năng lượng, chất béo, natri nhưng lại ít protein, canxi và phốt pho [2].

Nghiên cứu chỉ ra lượng muối khổng lồ trong mì tôm

Một nghiên cứu công bố năm 2017 đã phân tích 765 sản phẩm mì tôm từ 10 quốc gia thông qua cơ sở dữ liệu thực phẩm đóng gói [1]. Kết quả cho thấy hàm lượng natri trong mì tôm rất cao và có sự biến động lớn giữa các quốc gia [1]. Mì tôm tại Trung Quốc có mức natri trung bình cao nhất đạt 1944 mg/100 g (dao động từ 397 đến 3678 mg/100 g), trong khi New Zealand có mức natri trung bình 798 mg/100 g [1].

Kích thước gói mì trung bình dao động từ 57 g tại Costa Rica đến 98 g tại Trung Quốc [1]. Một gói mì trung bình đã đóng góp từ 35% đến 95% mức muối khuyến nghị hàng ngày của Tổ chức Y tế Thế giới là dưới 5 g [1]. Khảo sát cũng ghi nhận chỉ 41% sản phẩm đạt mục tiêu natri khu vực Quần đảo Thái Bình Dương, 37% đạt mục tiêu của Nam Phi năm 2016 và 62% đạt mục tiêu của Anh năm 2017 [1].

Nghiên cứu cắt ngang năm 2019 tại Malaysia tiến hành khảo sát thông tin dinh dưỡng của mì tôm tại 6 chuỗi đại siêu thị và website chính thức của các nhãn hàng [3]. Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh mì tôm là nguồn thực phẩm giàu muối dễ bị bỏ qua, góp phần làm gia tăng tỷ lệ mắc tăng huyết áp và bệnh tim mạch [3]. Lượng muối tính toán dựa trên công thức nhân lượng natri với hệ số 2,5 [3].

Tại Thái Lan, nghiên cứu năm 2023 khảo sát 248 cửa hàng bán lẻ tại 30 cộng đồng thuộc 6 quận ở vùng đô thị Bangkok [4]. Kết quả cho thấy các phiên bản mì tôm ít natri hoàn toàn không có mặt trên các kệ hàng, cả ở cửa hàng lớn lẫn cửa hàng nhỏ [4]. Ngoài ra, các loại gia vị giảm mặn khác nếu có bán thì giá thường cao gấp 2 đến 3 lần gia vị thông thường, tạo rào cản kinh tế lớn cho người muốn ăn giảm muối [4].

Mối liên hệ giữa mì tôm và nguy cơ tăng huyết áp

Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu kéo dài 4 năm trên 60.569 sinh viên Đại học Mở tại Thái Lan công bố năm 2013 đã làm rõ tác động này [2]. Kết quả ghi nhận thực phẩm ăn liền giàu carbohydrate, chất béo và muối làm gia tăng nguy cơ mắc mới bệnh tăng huyết áp ở nam giới [2]. Nam giới thường có xu hướng tiêu thụ thực phẩm ăn liền nhiều hơn nữ giới [2].

Nghiên cứu này cũng viện dẫn số liệu người dân Thái Lan tiêu thụ trung bình 10,8 g muối mỗi ngày, cao hơn nhiều so với khuyến cáo [2]. Tại Hàn Quốc, người chuộng mì tôm nạp lượng muối cao gấp hơn 3 lần mức khuyến nghị mỗi ngày (6,4 g so với 2 g) [2]. Do đó, việc tiêu thụ natri liều lượng cao từ mì tôm được kết luận có liên quan nhân quả với việc gia tăng nguy cơ tăng huyết áp [2].

Một nghiên cứu dinh dưỡng năm 2011 tại Hàn Quốc ghi nhận nhóm ăn mì tôm nạp hơn 6,4 g natri mỗi ngày, cao gấp 3,2 lần giá trị tham chiếu khuyến nghị KDRI [5]. Riêng mì tôm đã đóng góp khoảng 30% tổng lượng natri nạp vào mỗi ngày (tương đương 2.032,2 mg natri) [5].

Nghiên cứu năm 2015 trên người trưởng thành Hàn Quốc phân tích mối liên hệ giữa các kiểu bữa sáng với hội chứng chuyển hóa [6]. Nhóm ăn mì vào bữa sáng có mức dung nạp chất béo và natri cao, đồng thời có nguy cơ cao hơn đối với béo bụng, hội chứng chuyển hóa và tăng huyết áp [6]. Hàm lượng natri dồi dào trong nước súp mì được xác định là yếu tố trực tiếp dẫn đến nguy cơ này [6].

Gần đây nhất, nghiên cứu HEXA năm 2024 tại Hàn Quốc trên 56.580 người tham gia (18.246 nam và 38.334 nữ) trong độ tuổi từ 40 đến 69 tuổi sử dụng bảng câu hỏi tần suất thực phẩm [7]. Kết quả chỉ ra tiêu thụ nhiều mì liên quan trực tiếp đến việc gia tăng nguy cơ tăng huyết áp ở cả nam giới (tỷ số nguy hại HR = 1,273; khoảng tin cậy 95%: 1,166-1,390) và nữ giới (HR = 1,116; khoảng tin cậy 95%: 1,038-1,199) [7].

Hiểu lầm thường gặp khi sử dụng mì tôm

Nhiều người lầm tưởng vị mặn chỉ nằm ở vắt mì, dẫn đến việc nấu mì và nêm hết gói bột canh đi kèm. Thực tế, phần lớn lượng natri tích tụ trong gói bột gia vị và hòa tan vào nước dùng [6], [5]. Nếu ăn hết cả sợi mì lẫn nước súp, cơ thể sẽ hấp thụ toàn bộ lượng muối vượt ngưỡng.

Một quan niệm sai lầm khác là có thể dễ dàng tìm mua mì tôm ít natri để ăn thoải mái. Dữ liệu thực tế cho thấy các sản phẩm mì ăn liền giảm natri gần như chưa phổ biến trên thị trường bán lẻ thông thường [4].

Một số người cho rằng ăn mì tôm chung với rau sẽ triệt tiêu được tác hại của lượng muối dư thừa. Rau củ cung cấp thêm chất xơ và kali nhưng không làm mất đi lượng natri đã dung nạp qua nước mì [7]. Thận vẫn phải làm việc quá tải để lọc lượng muối dư thừa trong tuần hoàn [2].

Những đối tượng cần đặc biệt thận trọng

Người đã được chẩn đoán mắc bệnh tăng huyết áp hoặc tiền tăng huyết áp cần hạn chế tối đa thực phẩm này [2], [7]. Nạp lượng muối vượt ngưỡng sẽ kích hoạt tăng áp lực nội mạch tức thì [2].

Bệnh nhân mắc bệnh thận mạn tính hoặc đang chạy thận nhân tạo cần kiểm soát nghiêm ngặt lượng gia vị chế biến sẵn và mì tôm [8]. Một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên năm 2020 trên 87 bệnh nhân chạy thận nhân tạo (độ tuổi trung bình 59 tuổi, 90% bị tăng huyết áp) cho thấy tư vấn dinh dưỡng giúp giảm đáng kể lượng natri từ mì ăn liền từ 19 mg lúc đầu xuống còn 0 mg sau 365 ngày ở nhóm can thiệp [8].

Người mắc hội chứng chuyển hóa, béo phì hoặc có nguy cơ tim mạch tổng thể cao cũng cần kiêng cữ các món mì ăn liền nhiều dầu mỡ và muối [6].

Cách kiểm soát natri và chỉnh gói gia vị an toàn

Khi muốn ăn mì tôm thỉnh thoảng, người dùng cần thay đổi cách chế biến để giảm thiểu gánh nặng cho tim mạch:

  • Giảm gói gia vị: Không dùng toàn bộ gói súp bột đi kèm. Hãy chỉ cho một phần nhỏ hoặc thay thế bằng thảo mộc, hạt tiêu tự nhiên để tạo vị.
  • Không húp cạn nước súp: Nước dùng chứa phần lớn lượng muối hòa tan [6]. Nghiên cứu chỉ ra việc bỏ nước súp mì có thể loại bỏ khoảng 20% lượng natri, tương đương giảm khoảng 350 mg natri nạp vào mà không làm mất hương vị của sợi mì [5].
  • Chần bỏ nước đầu: Đun sôi vắt mì với nước sôi rồi đổ bỏ phần nước chần đầu tiên để loại bỏ bớt dầu chiên và lượng muối bám ngoài sợi mì trước khi nấu.
  • Bổ sung rau xanh và củ quả: Thêm rau củ vào bữa ăn để bổ sung kali [7]. Bổ sung các nguồn đạm tươi như trứng hoặc thịt nạc để cân bằng dinh dưỡng, do mì tôm rất nghèo protein và canxi [2].

Mì tôm là món ăn tiện lợi nhưng tiềm ẩn nguy cơ lớn đối với huyết áp do hàm lượng natri cao vượt ngưỡng [1], [2]. Người bệnh tăng huyết áp nên ăn thực phẩm tự nhiên tươi sống, chủ động cắt giảm gói gia vị và bỏ thói quen húp nước mì để bảo vệ hệ tim mạch. Nếu có thắc mắc cụ thể về chế độ ăn theo từng giai đoạn bệnh, hãy tham khảo ý kiến trực tiếp từ bác sĩ chuyên khoa hoặc chuyên gia dinh dưỡng.