Nhiều gia đình Việt Nam duy trì thói quen ngâm các loại rễ cây rừng vào rượu trắng để làm cồn thuốc hoặc rượu bổ uống mỗi ngày, trong đó có gối hạc đen. Dân gian truyền miệng rằng loại rượu ngâm này giúp trừ phong thấp, giảm đau nhức xương khớp và bồi bổ thể trạng. Tuy nhiên, việc tùy tiện sử dụng các bình cồn thuốc tự ngâm tại nhà tiềm ẩn nhiều hiểm họa cho sức khỏe hơn là công dụng phục hồi.
Rượu gối hạc đen ngâm tự phát không phải là thuốc chữa bệnh, chưa được kiểm chứng lâm sàng trên người và tiềm ẩn nhiều rủi ro ngộ độc. Dưới góc nhìn khoa học, dung môi rượu tự nấu không thể thay thế các quy trình chiết xuất y học chuẩn hóa, đồng thời nồng độ cồn cao và tạp chất chưa lọc bỏ có thể gây hại nghiêm trọng cho gan, dạ dày và hệ thần kinh.
Thói quen ngâm rượu dược liệu dân gian và những ngộ nhận
Dược liệu thuộc chi Leea (như gối hạc đen, gối hạc, rơm đen) là những cây bụi mọc hoang dã tại nhiều vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới [1]. Trong kinh nghiệm dân gian châu Á, các bộ phận của cây thường được sử dụng nhằm mục đích hỗ trợ giảm đau nhức cơ thể, nhức đầu hoặc xử lý các bệnh ngoài da [2]. Từ đó, người dân thường thu hái rễ cây, thái lát, phơi khô rồi đổ rượu nếp nồng độ cao vào ngâm uống dần.
Phần lớn người dùng tin rằng độ cồn càng mạnh thì tinh chất trong rễ cây tiết ra càng nhiều và bổ dưỡng. Quan niệm uống vài ly rượu ngâm mỗi bữa cơm để giãn cơ, tiêu viêm hoàn toàn xuất phát từ phỏng đoán cá nhân mà không dựa trên kiểm nghiệm y học. Cách làm này vô tình đưa vào cơ thể một lượng lớn cồn cùng các chất lạ chưa qua tinh chế.
Chiết xuất cồn dân gian khác dung môi y học như thế nào?
Chiết xuất trong phòng thí nghiệm y học tuân thủ quy trình nghiêm ngặt nhằm tách riêng các hợp chất có lợi và loại bỏ độc tố. Các nhà khoa học sử dụng các dung môi có độ tinh khiết cao như ethanol chuẩn độ, methanol, ethyl acetate hoặc hexane với nhiệt độ và tỉ lệ được kiểm soát [2, 3]. Điều này giúp đo lường chính xác nồng độ hoạt chất thu được và kiểm tra độc tính trên từng dòng tế bào [2, 4].
Trái lại, rượu dùng để ngâm dân gian thường là rượu nấu thủ công không rõ độ cồn chính xác và thường lẫn tạp chất như methanol hoặc aldehyde. Rượu tự ngâm không kiểm soát được lượng hoạt chất hòa tan, không thể định lượng liều dùng an toàn và dễ dẫn đến tình trạng chiết xuất luôn cả những chất kích ứng ruột hoặc chất gây hại từ dược liệu.
Hoạt tính sinh học của chi Leea qua các nghiên cứu
Dù chưa có dữ liệu thử nghiệm điều trị trên người, các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm đã ghi nhận nhiều hoạt tính sinh học từ các loài thực vật thuộc chi Leea (gối hạc).
Một nghiên cứu tổng quan công bố năm 2021 ghi nhận chiết xuất ethanol từ lá cây Leea indica cho thấy hoạt tính kháng virus đối với virus herpes simplex loại 1 (HSV-1) [3]. Chiết xuất methanol từ lá Leea asiatica thể hiện hoạt tính tẩy giun khi tác động lên giun đất trưởng thành Pheretima posthuma [3]. Ngoài ra, chiết xuất methanol từ lá Leea indica còn cho thấy khả năng chống sốt rét trên mô hình chuột được gây nhiễm ký sinh trùng sốt rét [3].
Khả năng chống oxy hóa cũng được tìm thấy ở nhiều loài cùng chi. Chiết xuất methanol lá Leea asiatica giúp gia tăng nồng độ các enzym chống oxy hóa nội sinh, chiết xuất lá Leea aequata có khả năng dọn gốc tự do DPPH, và chiết xuất ethanol từ rễ Leea rubra cũng thể hiện hoạt tính khử gốc tự do mạnh mẽ [3].
Một nghiên cứu công bố năm 2017 đã khảo sát dịch chiết lá Leea indica bằng các dung môi có độ phân cực tăng dần gồm chloroform, ethyl acetate, methanol, ethanol và nước [4]. Sàng lọc hóa thực vật phát hiện sự hiện diện của alkaloid, flavonoid, glycoside, phenol, lignin, saponin, sterol, tannin, anthraquinone và đường khử [4]. Chiết xuất methanol và ethanol cho thấy hàm lượng phenolic cao hơn so với dịch chiết nước và thể hiện năng lực chống oxy hóa cao nhất trong các thử nghiệm khử sắt, phosphomolybdenum và DPPH [4].
Trên tế bào ung thư tuyến tiền liệt người, chiết xuất methanol và ethanol của lá Leea indica thể hiện độc tính chọn lọc trong ống nghiệm đối với dòng DU-145 (IC50 lần lượt là 529,44 +- 42,07 mcg/mL và 677,11 +- 37,01 mcg/mL) và PC-3 (IC50 lần lượt là 547,55 +- 33,52 mcg/mL và 631,99 +- 50,24 mcg/mL) [4]. Đáng chú ý, các chiết xuất này không gây độc cho tế bào nguyên bào sợi phôi chuột bình thường [4].
Nghiên cứu công bố năm 2011 phân tích tiềm năng chống ung thư của phân đoạn ethyl acetate từ Leea indica (LIEAF) trên các dòng tế bào Ca Ski, MCF 7, MDA-MB-435, KB, HEP G2, WRL 68 và Vero [1]. Kết quả cho thấy LIEAF ức chế tế bào ung thư cổ tử cung Ca Ski mạnh nhất thông qua cơ chế kích hoạt quá trình chết tế bào theo chương trình (apoptosis), với các biểu hiện phân mảnh ADN, cô đặc chất nhiễm sắc, suy giảm glutathione nội bào và kích hoạt caspase-3 [1].
Năm 2013, một nghiên cứu khác về dịch chiết ethanol lá Leea indica ghi nhận hàm lượng phenolic tổng đạt 24,00 +- 0,81 g GAE/100 g, flavonoid tổng đạt 194,68 +- 2,43 g quercetin/100 g và tổng khả năng chống oxy hóa đạt 106,61 +- 1,84 g AA/100 g chiết xuất khô [5]. Dịch chiết này ức chế các vi khuẩn Gram dương như Bacillus subtilis, Bacillus cereus, Bacillus megaterium, Staphylococcus aureus và vi khuẩn Gram âm như Salmonella typhi, Pseudomonas aeroginosa, Vibrio cholerae, Escherichia coli, đồng thời ức chế nấm Aspergillus flavus (38,09 +- 0,59%), Candida albicans (22,58 +- 2,22%) và Fusarium equisetii (22,58 +- 2,22%) [5].
Về tác dụng kháng viêm và da liễu, nghiên cứu năm 2021 trên phân đoạn n-hexane từ chiết xuất methanol lá Leea indica (NFLI) ghi nhận khả năng ức chế biến tính protein và ức chế tán huyết [2]. Khi bôi ngoài da cho chuột ở các nồng độ 10%, 1% và 0,1%, NFLI giúp tăng chiều dài lông đáng kể so với nhóm đối chứng không điều trị; nồng độ 1% cho tỷ lệ mọc lông cao nhất vào các ngày 7, 14 và 21 (đạt 81,24%, 65,60% và 62,5%) [2].
Năm 2011, nghiên cứu trên chuột ghi nhận chiết xuất methanol lá Leea indica ở liều 200 mg/kg và 400 mg/kg đường uống có tác dụng an thần, kéo dài thời gian ngủ do thiopental gây ra, đồng thời thể hiện tác dụng giải lo âu trên mô hình mê cung chữ thập nâng cao (EPM) [6]. Nghiên cứu năm 2016 trên loài Leea macrophylla cho thấy dịch chiết ethanol từ củ rễ chứa hàm lượng chlorogenic acid đạt 9,01% khối lượng và có khả năng chống oxy hóa, kháng khuẩn [7].
Bằng chứng hiện tại còn nhiều khoảng trống
Mặc dù các loài thuộc chi Leea sở hữu nhiều hợp chất tiềm năng như phenol, flavonoid, alkaloid hay tannin, người dân không nên nhầm lẫn giữa kết quả phòng thí nghiệm và tác dụng khi uống rượu ngâm [2, 8].
Tất cả các thử nghiệm nêu trên đều thực hiện trên ống nghiệm (in vitro), trên đĩa cấy vi khuẩn nấm, hoặc trên động vật gặm nhấm (chuột) [1, 2, 4, 7]. Chưa có nghiên cứu lâm sàng nào được tiến hành trên cơ thể người để xác định hiệu quả chữa bệnh hay độ an toàn dài hạn của gối hạc đen [4].
Thêm vào đó, việc phân đoạn ethyl acetate hay nước cho thấy hoạt tính chọn lọc khác xa với cồn thô [3, 6]. Một nghiên cứu năm 2012 cho thấy trong các phân đoạn chiết xuất từ lá Leea indica, phân đoạn nước mới là nhóm thể hiện hàm lượng phenolic cao nhất và năng lực chống oxy hóa mạnh nhất, đồng thời cả 4 loại chiết xuất khảo sát đều không làm tổn hại các tế bào ung thư đại tràng thử nghiệm (HT-29, HCT-15, HCT-116) [8]. Điều này chứng minh dung môi cồn thông thường không phải lúc nào cũng tối ưu hoạt tính sinh học [8].
Cảnh báo rủi ro khi dùng rượu ngâm gối hạc đen
Nguy cơ hàng đầu khi uống rượu gối hạc tự ngâm đến từ chính nồng độ cồn và độc tố rượu. Rượu trắng trôi nổi trên thị trường rất dễ chứa cồn công nghiệp methanol hoặc tạp chất chưng cất kém an toàn. Uống rượu ngâm thường xuyên gây áp lực chuyển hóa lớn lên tế bào gan, gây viêm loét dạ dày và suy giảm chức năng thận.
Tự ngâm cồn thuốc tại nhà hoàn toàn không kiểm soát được liều lượng. Các hợp chất tự nhiên như alkaloid hay tannin nếu hòa tan với liều cao không kiểm soát có thể gây kích ứng niêm mạc ruột, cản trở hấp thu dinh dưỡng hoặc ngộ độc cấp tính [2, 8]. Việc chiết xuất toàn phần dạng cồn thô dễ kéo theo các tạp chất gây hại nằm lẫn trong rễ cây tự nhiên.
Nguy hiểm hơn, chiết xuất thực vật chi Leea đã được chứng minh có tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương và gây an thần trên động vật [6]. Khi dung dịch này kết hợp cùng cồn - vốn cũng là một chất ức chế thần kinh - người uống có thể gặp tình trạng lơ mơ, tụt huyết áp, ức chế hô hấp hoặc tương tác tiêu cực với các loại thuốc điều trị đang sử dụng.
Những ai cần tuyệt đối tránh xa rượu ngâm dược liệu?
Người có bệnh lý về gan như gan nhiễm mỡ, viêm gan virus, xơ gan tuyệt đối không được uống rượu ngâm vì cồn sẽ đẩy nhanh quá trình hủy hoại tế bào gan.
Người mắc bệnh tim mạch, tăng huyết áp, hoặc người đang sử dụng thuốc điều trị thần kinh, thuốc an thần cần tránh dùng, do tương tác nguy hiểm giữa cồn và hoạt tính ức chế thần kinh của dược liệu [6].
Người có tiền sử viêm loét dạ dày tá tràng không nên sử dụng vì nồng độ cồn cao và hoạt chất tannin trong dịch chiết rễ cây có thể gây bào mòn, kích thích niêm mạc đường tiêu hóa gây đau rát hoặc xuất huyết tiêu hóa [7].
Phụ nữ mang thai, người đang cho con bú và trẻ em tuyệt đối không tiếp xúc với rượu ngâm dưới bất kỳ hình thức nào để tránh nguy cơ ngộ độc cồn và tổn thương bào thai.
Lời khuyên an toàn và cách tiếp cận khoa học
Để bảo vệ sức khỏe, người dân cần từ bỏ quan niệm xem rượu ngâm dược liệu là phương thuốc bổ dưỡng hàng ngày. Nếu muốn sử dụng gối hạc đen để hỗ trợ sức khỏe, nên ưu tiên dạng sắc nước uống truyền thống theo hướng dẫn chuẩn mực của y học cổ truyền thay vì dung môi rượu.
Trước khi sử dụng bất kỳ bài thuốc dân gian nào từ chi Leea, người bệnh cần tham khảo ý kiến của bác sĩ hoặc thầy thuốc y học cổ truyền để được chẩn đoán chính xác và tư đoán đúng liều. Tuyệt đối không tự ý ngưng các thuốc điều trị đặc hiệu để chuyển sang uống rượu rễ cây.
Rượu gối hạc đen ngâm tự phát không mang lại lợi ích chữa bệnh đã được khoa học chứng minh mà chỉ làm tăng nguy cơ tổn thương cơ thể do cồn và tạp chất. Hãy sáng suốt bảo vệ sức khỏe bằng lối sống điều độ, khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế uy tín và cẩn trọng trước các bài thuốc ngâm rượu truyền miệng.






