Nhiều người có thói quen uống cùng lúc các viên thuốc bổ sung khoáng chất như kẽm song song với thuốc trị bệnh nhiễm trùng để nhanh hồi phục sức khỏe. Tuy nhiên, hành động tiện tay này có thể khiến phác đồ kháng sinh thất bại hoàn toàn.
Khi dùng chung với các kháng sinh nhóm quinolone hoặc tetracycline, kẽm sẽ gắn kết trực tiếp với phân tử thuốc tại ruột, tạo phức chất không tan khiến thuốc không thể ngấm vào máu. Để tránh tương tác bất lợi này, người bệnh bắt buộc phải uống hai loại cách nhau tối thiểu từ 2 đến 4 giờ đồng hồ.
Tương tác chelate: Cơ chế biến kháng sinh thành chất vô dụng
Cơ chế tương tác thuốc phổ biến nhất dẫn đến hậu quả lâm sàng nghiêm trọng là sự ức chế hấp thu qua đường tiêu hóa [1]. Khi dùng qua đường uống, các kháng sinh nhóm fluoroquinolone và tetracycline gặp ion kim loại hóa trị hai hoặc hóa trị ba như kẽm, sắt, canxi, magie hoặc nhôm sẽ lập tức xảy ra phản ứng tạo phức chelate [2, 5].
Phản ứng chelate hóa giữa kháng sinh và cation kim loại tạo thành một hợp chất phức không tan trong lòng ruột [1, 2]. Hợp chất này có cấu trúc phân tử lớn, trơ, khiến niêm mạc ống tiêu hóa kém hấp thu hoặc không thể hấp thu vào máu [2].
Hậu quả trực tiếp là sinh khả dụng đường uống của kháng sinh bị sụt giảm nghiêm trọng [2, 4]. Kháng sinh dùng đường uống có biên độ giảm sinh khả dụng rất hẹp đối với các mầm bệnh nhạy cảm ở mức trung bình [3]. Sự tạo phức chelate với các cation đa hóa trị làm mất hoạt tính của fluoroquinolone cả trong ống nghiệm (in vitro) lẫn trên cơ thể người (in vivo) [3]. Nồng độ thuốc trong máu giảm sút không chỉ dẫn đến thất bại điều trị mà còn trực tiếp thúc đẩy vi khuẩn phát triển tính kháng thuốc [2].
Thực trạng tương tác thuốc: Phổ biến nhưng thường bị bỏ qua
Sự tương tác giữa kháng sinh và các khoáng chất chứa cation kim loại không phải là nguy cơ hiếm gặp mà diễn ra rất phổ biến trong thực tế điều trị ngoại trú lẫn nội trú.
Các y văn ghi nhận tương tác chelate xảy ra ở khoảng 22% đến 76% bệnh nhân được kê đơn kháng sinh nhóm fluoroquinolone [3]. Dù đây là một tương tác thuốc đã được cảnh báo chống chỉ định từ lâu, tỷ lệ người bệnh vô tình dùng chung hai nhóm thuốc vẫn ở mức đáng báo động [4].
Một nghiên cứu cắt ngang công bố năm 2021 tiến hành thu thập dữ liệu tại một bệnh viện chăm sóc cấp ba cho thấy thực trạng này [4]. Nghiên cứu theo dõi những bệnh nhân nội trú là người trưởng thành được chỉ định kháng sinh uống nhóm fluoroquinolone hoặc tetracycline cùng các hợp chất chứa cation hóa trị hai hoặc ba trong năm 2019 [4]. Kết quả ghi nhận có 47 bệnh nhân (chiếm 26,6%) dùng đồng thời cả hai nhóm chất này [4].
Trong số đó, ciprofloxacin là loại kháng sinh bị tương tác phổ biến nhất với 29 bệnh nhân (chiếm 61,7%), tiếp theo là moxifloxacin với 12 bệnh nhân (25,5%) và doxycycline với 6 bệnh nhân (12,8%) [4]. Đáng chú ý, có tới 74,5% bệnh nhân (35 người) uống kháng sinh cùng lúc với các chế phẩm chứa cation, và 2,1% (1 người) được xếp lịch uống với khoảng cách thời gian không phù hợp [4]. Nghiên cứu chỉ ra rằng việc sử dụng hồ sơ phát thuốc viết tay góp phần làm tăng tỷ lệ phối hợp thuốc sai cách nguy hiểm này [4].
Những nhóm kháng sinh bị kẽm "vô hiệu hóa"
Không phải mọi loại kháng sinh đều bị kẽm làm mất tác dụng, nhưng hai nhóm kháng sinh phổ rộng thông dụng nhất hiện nay chịu ảnh hưởng nặng nề:
Nhóm Fluoroquinolone: Bao gồm các hoạt chất phổ biến như ciprofloxacin, moxifloxacin, norfloxacin, ofloxacin, pefloxacin và enoxacin [1, 5, 7]. Nhóm thuốc này thường được chỉ định cho các bệnh nhiễm khuẩn nặng đường hô hấp, tiết niệu hoặc tiêu hóa [4, 7]. Khi uống chung, mức hấp thu của toàn bộ nhóm quinolone đều bị suy giảm rõ rệt [5]. Thuốc kháng acid chứa magie, nhôm và sucralfate gây ảnh hưởng giảm sinh khả dụng lớn nhất, tiếp theo sau là sắt, canxi và kẽm [3].
Nhóm Tetracycline: Bao gồm tetracycline, doxycycline và các hoạt chất liên quan [3, 5, 6]. Nhóm này hay được các bác sĩ da liễu và truyền nhiễm kê đơn để điều trị mụn trứng cá hoặc các bệnh nhiễm khuẩn mô hạt [1]. Nghiên cứu năm 2021 xác định doxycycline khi tạo phức chelate với ion kim loại sẽ bị mất hoạt tính kháng khuẩn [6]. Cụ thể, mức độ nhạy cảm của vi khuẩn với dạng doxycycline đã liên kết kim loại bị giảm từ 2 đến 4 lần so với dạng tự do [6].
Bên cạnh đó, trong các thử nghiệm vi sinh học năm 2019 về hoạt tính của kháng sinh tigecycline, việc bổ sung thêm các ion kim loại vào môi trường nuôi cấy cũng làm tăng nồng độ ức chế tối thiểu (MIC), đồng nghĩa làm suy giảm hiệu lực diệt khuẩn của kháng sinh [7].
Nghịch lý phòng thí nghiệm và thực tế cơ thể người
Một điểm thú vị được các nhà khoa học phát hiện là phức hợp kẽm - kháng sinh ngoài đời thực và trong phòng thí nghiệm mang lại kết quả trái ngược.
Nghiên cứu tổng quan năm 2022 chỉ ra rằng, khi được tổng hợp nhân tạo trước trong ống nghiệm, phức hợp của phối tử kẽm với phân tử quinolone thể hiện hoạt tính kháng khuẩn rất mạnh đối với một số chủng vi khuẩn Gram dương và Gram âm, thậm chí cao hơn cả hoạt tính của phân tử quinolone tự do [2].
Thế nhưng, tác dụng vượt trội này hoàn toàn không thể xuất hiện khi người bệnh tự uống chung viên kẽm và viên kháng sinh vào dạ dày [2]. Nguyên nhân là phức chất hình thành tự phát trong đường ruột có cấu trúc không tan, bị chặn đứng ngay tại niêm mạc ống tiêu hóa và nhanh chóng bị đào thải ra ngoài theo phân, dẫn đến nồng độ thuốc ngấm vào máu không đạt ngưỡng điều trị [2]. Tương tác chelate này chỉ xuất hiện khi dùng thuốc qua đường uống [2].
Khoảng cách an toàn: Uống cách nhau bao lâu?
Để đảm bảo hiệu quả điều trị nhiễm khuẩn, việc giãn cách thời gian giữa liều kháng sinh và các hợp chất chứa cation kim loại như kẽm là nguyên tắc bắt buộc [3].
Nguyên tắc giãn cữ: Người bệnh cần uống kháng sinh trước viên kẽm ít nhất 2 giờ, hoặc uống kháng sinh sau khi uống kẽm ít nhất 4 giờ. Khoảng cách này cho phép viên kháng sinh kịp tan rã và hấp thu hoàn toàn qua niêm mạc ruột non trước khi kẽm xuất hiện, hoặc ngược lại, đảm bảo lượng kẽm đã đi qua vị trí hấp thu chính ở dạ dày - ruột.
Dù việc phân chia thời gian giúp phục hồi khả năng hấp thu kháng sinh, các tài liệu y khoa cũng lưu ý rằng việc phải chia nhiều khung giờ uống trong ngày có thể gây khó khăn lớn cho người bệnh trong việc tuân thủ lịch dùng thuốc bổ sung vi chất [3].
Ai cần đặc biệt thận trọng với tương tác này?
Tương tác thuốc này có thể xảy ra ở bất kỳ ai, nhưng những nhóm người sau đây có nguy cơ cao nhất:
- Người đang điều trị mụn trứng cá: Bác sĩ da liễu rất thường kê đơn kháng sinh uống nhóm tetracycline phối hợp với viên uống bổ sung kẽm để kiểm soát bã nhờn và giảm viêm nang lông [1]. Nếu tự ý uống chung hai loại cùng lúc, tác dụng của kháng sinh sẽ mất hoàn toàn [1].
- Bệnh nhân điều trị nhiễm trùng hô hấp, tiêu hóa bằng fluoroquinolone (ciprofloxacin, moxifloxacin) [4]: Những người có thói quen tự mua thêm các loại thực phẩm bảo vệ sức khỏe, vitamin tổng hợp chứa kẽm để bồi bổ lúc ốm.
- Bệnh nhân nằm viện có sử dụng nhiều loại thuốc phối hợp: Đặc biệt tại các cơ sở quản lý hồ sơ dùng thuốc bằng giấy viết tay, nguy cơ nhân viên y tế cho dùng trùng giờ kháng sinh và khoáng chất rất dễ xảy ra [4].
Hướng dẫn sử dụng an toàn trong đời sống
Để loại bỏ hoàn toàn nguy cơ mất tác dụng của kháng sinh do tương tác với kẽm, người bệnh cần thực hiện những bước đơn giản sau:
Kiểm tra kỹ thành phần: Không chỉ viên kẽm đơn chất, kẽm còn hiện diện phổ biến trong các viên vitamin tổng hợp, khoáng chất tổng hợp, thuốc tăng cường miễn dịch và men tiêu hóa. Cần đọc bảng thành phần trước khi uống bất kỳ loại viên bổ sung nào song song với kháng sinh.
Sắp xếp thời gian biểu dùng thuốc: Nếu phải uống kháng sinh quinolone hoặc tetracycline 2 lần/ngày (ví dụ 8 giờ sáng và 20 giờ tối), bạn nên dời cữ uống kẽm hoặc viên vi chất vào khoảng 12 giờ trưa.
Tạm dừng vi chất không cần thiết: Nếu lịch uống thuốc trong ngày quá phức tạp và dễ gây nhầm lẫn, giải pháp an toàn nhất là tạm ngưng uống viên kẽm trong thời gian 5-7 ngày dùng kháng sinh. Sau khi hoàn thành đủ đợt kháng sinh, bạn có thể tiếp tục bổ sung khoáng chất như bình thường.
Người bệnh đang có bệnh lý nền, người cao tuổi hoặc người phải điều trị nhiều loại thuốc cùng lúc cần chủ động thông báo cho bác sĩ hoặc dược sĩ danh sách toàn bộ các thực phẩm chức năng mình đang dùng để được hướng dẫn xếp lịch uống thuốc tối ưu, bảo vệ trọn vẹn tác dụng diệt khuẩn của phác đồ điều trị [1, 3].





