Nhiều người thường tìm kiếm các loại thảo dược tự nhiên quý hiếm với hy vọng giảm bớt tình trạng viêm khớp mãn tính hoặc sưng đau cơ thể. Thủy tùng (Glyptostrobus pensilis), một loài thực vật lá kim quý hiếm, từng được đồn đoán mang lại nhiều lợi ích sức khỏe đặc biệt ở phần thân và vỏ. Tuy nhiên, liệu các nghiên cứu khoa học thực tế có xác nhận khả năng kháng viêm thông qua việc ức chế nitric oxide (NO) và cytokine từ loài cây này hay không?
Câu trả lời ngắn gọn là: Hiện tại chưa có bằng chứng nghiên cứu trực tiếp chứng minh dịch chiết vỏ cây thủy tùng ức chế nitric oxide (NO) hay các cytokine gây viêm trên mô hình tế bào. Dữ liệu khoa học duy nhất trên vỏ thân cây thủy tùng tập trung vào hoạt tính ức chế enzym liên quan đến chuyển hóa đường, trong khi các cơ chế ức chế chất trung gian gây viêm NO hay cytokine lại được tìm thấy từ các loài thực vật khác như thông, ổi, lạc tiên hoặc cây sam nước.
Thủy tùng và khoảng trống nghiên cứu kháng viêm
Thủy tùng (Glyptostrobus pensilis) là loài hạt trần đặc hữu đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng, được bảo vệ nghiêm ngặt tại nhiều quốc gia [1]. Do tính chất quý hiếm, các nghiên cứu hóa thực vật trên loài cây này thường rất hạn chế về mặt khối lượng mẫu thí nghiệm [1].
Nhiều người dễ nhầm lẫn đặc tính dược lý của các loài cây lá kim hoặc các loài thực vật họ hàng thân gỗ với thủy tùng. Một số thông tin truyền miệng gán ghép cho vỏ cây thủy tùng khả năng dập tắt ổ viêm, ngăn chặn phản ứng sưng tấy thông qua các chất trung gian miễn dịch.
Thực tế, dữ liệu khoa học về khả năng chống viêm của riêng vỏ cây thủy tùng vẫn chưa được xác lập rõ ràng trên mô hình tế bào. Việc quy kết tác dụng ức chế các phân tử viêm nhiễm chuyên biệt cho loài cây này là một giả định chưa được kiểm chứng đầy đủ bởi các tài liệu thực nghiệm độc lập.
Nghiên cứu thực tế trên vỏ cây thủy tùng phát hiện điều gì?
Một nghiên cứu công bố năm 2020 đã tiến hành phân lập các hợp chất từ lượng mẫu vỏ thân giới hạn của loài cây lá kim nguy cấp thủy tùng (Glyptostrobus pensilis) [1]. Trong nghiên cứu này, các nhà khoa học đã tách chiết được 6 đồng phân lập thể spirobiflavonoid, bao gồm hai chất mới được đặt tên là spiropensilisol A và B [1].
Cấu trúc mới của các hợp chất này có đặc trưng chứa khung benzofuran-spirolactone và đã được xác định cấu hình lập thể chính xác thông qua các phương pháp quang phổ chuyên sâu [1]. Sau đó, nhóm nghiên cứu đã thử nghiệm hoạt tính sinh học của tất cả các hợp chất phân lập được trên enzym protein tyrosine phosphatase 1B (PTP1B) của người [1].
Kết quả cho thấy tất cả các đồng phân spirobiflavonoid từ vỏ cây thủy tùng đều ức chế đáng kể enzym PTP1B với giá trị IC50 dao động từ 3,3 đến 17,1 microM [1]. Enzym PTP1B là một đích điều trị tiềm năng cho các bệnh lý chuyển hóa như đái tháo đường và béo phì, chứ không phải một chất trung gian gây viêm kinh điển như nitric oxide hay các cytokine [1]. Nghiên cứu cũng thực hiện phân tích tương quan cấu trúc - hoạt tính (SAR) sơ bộ bằng mô hình phân tử cho hợp chất mạnh nhất để tìm hiểu cách thức liên kết trong vị trí hoạt động của PTP1B [1].
Như vậy, nghiên cứu thực tế trên vỏ cây thủy tùng không khảo sát cũng như không ghi nhận tác dụng ức chế nitric oxide (NO) hay các cytokine gây viêm [1].
Cơ chế ức chế NO và cytokine được chứng minh ở các loài thực vật khác
Dù vỏ cây thủy tùng chưa có dữ liệu kháng viêm, hoạt tính ức chế nitric oxide (NO) và các cytokine gây viêm lại được ghi nhận rõ ràng trên dịch chiết vỏ của nhiều loài thực vật khác. Các nghiên cứu này giúp làm sáng tỏ cách các hợp chất tự nhiên kiểm soát phản ứng viêm tại mức độ tế bào và mô.
Nitric oxide (NO) và prostaglandin E2 (PGE2) là những chất trung gian gây viêm quan trọng do các enzym cảm ứng như iNOS và COX-2 tạo ra trong quá trình cơ thể phản ứng với kích thích miễn dịch [2], [3], [4]. Khi các chất này bị ức chế quá mức, tình trạng viêm sưng tại mô sẽ giảm bớt đáng kể.
Một nghiên cứu công bố năm 2004 trên vỏ loài thông Pinus sylvestris L. cho thấy dịch chiết chứa hợp chất phenolic có đặc tính chống viêm rõ nét [2]. Nghiên cứu đã phân đoạn dịch chiết vỏ thông bằng phương pháp chiết lỏng - lỏng và sắc ký lỏng hiệu năng cao bán điều chế, nhận diện được 28 hợp chất phenolic cùng 8 phân tử đơn lẻ qua kỹ thuật NMR và khối phổ [2]. Kết quả đo lường xác nhận dịch chiết vỏ thông chứa các hợp chất có khả năng ức chế quá trình tổng hợp hai chất trung gian gây viêm là nitric oxide (NO) và PGE2 [2].
Ở mô hình đại thực bào RAW 264.7 kích thích bởi LPS, nghiên cứu năm 2015 trên vỏ thân cây lạc tiên (Passiflora foetida) đã phân lập 10 hợp chất flavonoid [3]. Hai hoạt chất luteolin và chrysoeriol cho thấy tác dụng ức chế sản sinh NO rất mạnh với nồng độ ức chế một nửa (IC50) lần lượt là 1,2 và 3,1 microM [3]. Tác động này đạt được nhờ việc ngăn chặn sự biểu hiện của enzym tổng hợp nitric oxide cảm ứng (iNOS) ngay ở cấp độ phiên mã [3].
Tương tự, nghiên cứu năm 2014 đối với hợp chất beta-sitosteryl-3-O-beta-glucopyranoside chiết xuất từ vỏ cây Sorbus commixta trên đại thực bào RAW 264.7 cũng cho kết quả ức chế mạnh mẽ sự sản sinh NO và PGE2 [4]. Phân tử này không chỉ kìm hãm biểu hiện của iNOS và COX-2 mà còn làm giảm sự phóng thích các cytokine tiền viêm bao gồm TNF-alpha, IL-1beta và IL-6 thông qua ức chế con đường truyền tín hiệu NF-kappaB [4].
Các bằng chứng kháng viêm trên mô hình động vật từ vỏ cây
Bên cạnh mô hình tế bào, nhiều nghiên cứu trên động vật cũng cho thấy dịch chiết vỏ cây có thể làm giảm nồng độ các chất trung gian gây viêm một cách hiệu quả.
Nghiên cứu công bố năm 2025 trên chuột cống trắng Wistar bị gây viêm bằng carrageenan đã đánh giá tác động của dịch chiết ethanol từ vỏ cây ổi (Psidium guajava) [5]. Chuột thí nghiệm được chia thành 6 nhóm và cho dùng dịch chiết vỏ ổi ở các liều khác nhau trong 14 ngày [5]. Kết quả cho thấy nhóm điều trị giảm đáng kể kích thước phù nề bàn chân (p <= 0,05), đồng thời giảm mạnh nồng độ các cytokine tiền viêm như TNF-alpha, IL-6 và hoạt tính của enzym COX-2 so với nhóm không điều trị [5]. Dịch chiết vỏ ổi cũng giúp bình thường hóa enzym chống oxy hóa (SOD, catalase, GPx), hạ thấp nồng độ protein phản ứng C (CRP) và mức ức chế protease [5].
Một loài cây hạt trần khác là sam nước (Metasequoia glyptostroboides) cũng được nghiên cứu năm 2015 về phân đoạn proanthocyanidin từ vỏ cây [6]. Thí nghiệm trên chuột bị viêm da tiếp xúc dị ứng do DNFB cho thấy dùng dịch chiết vỏ sam nước qua đường uống hoặc tiêm phúc mạc đều làm giảm sưng tai chuột [6]. Nghiên cứu tế bào bổ trợ chỉ ra dịch chiết này ức chế sự tăng sinh tế bào T kích thích bởi Con A, hạ thấp các phân tử bề mặt CD69 và CD25, đồng thời giảm sản sinh các cytokine chuyên biệt Th1/Th17 như IL-2, IFN-gamma và IL-17 ở mức độ biểu hiện mRNA [6].
Nghiên cứu trên vỏ cây Ficus microcarpa năm 2023 trên chuột cống Wistar ghi nhận dịch chiết ethyl acetate liều 200 mg/kg làm giảm phù nề 59,48% sau 4 giờ trong giai đoạn cấp và 83,96% ở ngày thứ 21 trong giai đoạn mãn tính [7]. Hợp chất catechin phân lập từ vỏ loài cây này thể hiện mức ức chế enzym COX-1 và COX-2 với IC50 lần lượt là 9,02 và 50,38 microM [7]. Ngoài ra, dịch chiết vỏ cây Inga jinicuil cũng được chứng minh có hoạt tính kháng viêm đạt mức 67,3 +- 2,0% trên mô hình phù tai chuột [8].
Hiểu lầm thường gặp và giới hạn của bằng chứng
Hiểu lầm phổ biến nhất là đánh đồng mọi loài cây gỗ quý hoặc thực vật lá kim đều có khả năng kháng viêm giống nhau. Việc gán ghép các hoạt tính ức chế NO, TNF-alpha hay IL-6 tìm thấy ở cây thông, cây ổi hay cây sam nước sang cho vỏ cây thủy tùng là hoàn toàn thiếu cơ sở khoa học [2], [5], [6].
Bằng chứng hiện có trên vỏ cây thủy tùng (Glyptostrobus pensilis) chỉ mới dừng lại ở việc ức chế enzym PTP1B trong ống nghiệm nhằm định hướng cho nghiên cứu chuyển hóa đường và béo phì, chưa từng thử nghiệm hay chứng minh trên các mô hình viêm nhiễm [1]. Enzym PTP1B không tương đồng với các chỉ số hay tế bào biểu hiện cytokine viêm nhiễm [1].
Hơn nữa, các thử nghiệm dược lý trên các loài cây khác phần lớn được thực hiện trên tế bào cô lập (như dòng RAW 264.7) hoặc mô hình chuột thí nghiệm [5], [3], [7], [4]. Hiệu quả trong phòng thí nghiệm chưa thể phản ánh nguyên vẹn tác động sinh học phức tạp trên cơ thể người do sự khác biệt về hấp thu và chuyển hóa.
Ai nên thận trọng?
Thủy tùng là loài thực vật quý hiếm, đang bị đe dọa tuyệt chủng và được bảo vệ nghiêm ngặt [1]. Người dân tuyệt đối không nên tìm mua, thu hái hay sử dụng các bộ phận từ cây thủy tùng theo những lời quảng cáo truyền miệng không rõ nguồn gốc.
Người đang mắc các bệnh lý viêm khớp mãn tính, bệnh tự miễn hoặc nhiễm trùng không được tự ý sử dụng vỏ cây hay các loại bột vỏ gỗ chưa được kiểm định để điều trị bệnh. Việc này có thể dẫn đến nguy cơ ngộ độc, dị ứng hoặc tương tác thuốc khó lường.
Phụ nữ mang thai, phụ nữ đang cho con bú và trẻ nhỏ cần đặc biệt cẩn trọng, tránh xa các chế phẩm thảo dược trôi nổi từ vỏ cây. Những đối tượng này có hệ cơ quan nhạy cảm và hiện tại hoàn toàn không có dữ liệu an toàn nào về việc tiêu thụ vỏ cây thủy tùng ở người.
Người có bệnh lý nền cần luôn tham khảo ý kiến của bác sĩ chuyên khoa hoặc chuyên gia y tế trước khi áp dụng bất kỳ bài thuốc dân gian hay thực phẩm bổ sung mới nào vào chế độ sinh hoạt thường ngày.
Áp dụng thực tế như thế nào?
Hiện tại, khoa học chưa có khuyến cáo hay liều dùng nào cho vỏ cây thủy tùng trong mục đích kháng viêm do thiếu dữ liệu lâm sàng [1]. Do đó, người tiêu dùng không nên tự ý tìm kiếm hay sử dụng nguyên liệu này dưới mọi hình thức sắc uống hay ngâm đắp.
Để kiểm soát tình trạng viêm mãn tính trong cơ thể một cách khoa học, mọi người nên xây dựng lối sống lành mạnh kết hợp chế độ ăn uống đa dạng. Việc bổ sung các thực phẩm tự nhiên giàu flavonoid và hợp chất phenolic đã được kiểm chứng an toàn qua chế độ ăn cân bằng là giải pháp bền vững.
Nếu cơ thể xuất hiện các dấu hiệu viêm sưng kéo dài, đau nhức khớp hoặc sốt, người bệnh nên đến các cơ sở y tế để được thăm khám chính xác. Việc tuân thủ phác đồ điều trị của bác sĩ chuyên khoa luôn là lựa chọn an toàn và hiệu quả nhất thay vì tin theo những lời đồn thổi về các loài gỗ quý.
Những phát hiện mới về vỏ cây thủy tùng hiện chỉ xoay quanh hoạt tính ức chế PTP1B trong phòng thí nghiệm chứ chưa hề khẳng định tác dụng chống viêm [1]. Người dân cần giữ cái nhìn tỉnh táo, không tự ý dùng dược liệu quý hiếm chưa có bằng chứng rõ ràng để bảo vệ sức khỏe bản thân và bảo tồn thiên nhiên.



