Natto, món đậu tương lên men truyền thống của Nhật Bản, được quảng cáo rộng rãi như phương thuốc tự nhiên giúp tan cục máu đông và đảo ngược quá trình xơ vữa động mạch. Người tiêu dùng thường tìm kiếm thực phẩm này nhằm cải thiện sức khỏe tim mạch và làm sạch lòng mạch máu.
Tuy nhiên, xét từ góc độ dữ liệu lâm sàng hiện có, không có bằng chứng khoa học trực tiếp nào chứng minh natto có khả năng làm giảm độ dày thành mạch hoặc đảo ngược xơ vữa động mạch cảnh. Việc đánh giá hiệu quả can thiệp trên cấu trúc mạch máu đòi hỏi các chỉ số hình ảnh chính xác, cụ thể là độ dày lớp nội mạc trung mạc động mạch cảnh, nhưng các bằng chứng can thiệp thực tế từ natto hiện vẫn chưa được xác lập trong y văn chuẩn mực.
Chỉ số CCA-IMT trong đánh giá xơ vữa mạch máu
Độ dày lớp nội mạc trung mạc động mạch cảnh (CCA-IMT) là thước đo siêu âm quan trọng dùng để phát hiện sớm các biến đổi của thành mạch trước khi hình thành mảng xơ vữa lớn. Phương pháp siêu âm này không xâm lấn, đo lường khoảng cách giữa bề mặt lòng mạch và ranh giới giữa lớp trung mạc với ngoại mạc.
Độ chính xác của siêu âm IMT đã được kiểm chứng bằng mô học. Một nghiên cứu thực hiện năm 1994 đã so sánh độ dày đo bằng siêu âm với quan sát trực tiếp qua kính hiển vi quang học, ghi nhận mối tương quan chặt chẽ giữa hai phương pháp (hệ số r = 0,82, p < 0,001) [1]. Phép đo qua kính hiển vi cho kết quả mỏng hơn do mô bị co rút trong quá trình xử lý tiêu bản [1].
Chỉ số IMT tăng dần theo mức độ tích tụ tổn thương mạch máu. Nghiên cứu năm 1994 trên 3 nhóm đối tượng gồm người không có mảng bám (224 người), có một mảng bám (105 người) và có một mảng bám chu vi hoặc từ hai mảng bám trở lên (54 người) cho thấy IMT tăng rõ rệt theo điểm số mảng xơ vữa tại vị trí chia đôi động mạch cảnh [1]. Chỉ số này cũng tỷ lệ thuận với gánh nặng của các yếu tố nguy cơ tim mạch tổng hợp [1].
Giá trị tiên lượng của IMT với bệnh mạch máu toàn thân
Độ dày nội mạc động mạch cảnh không chỉ phản ánh tổn thương cục bộ mà còn là dấu hiệu cảnh báo xơ vữa động mạch toàn thân, bao gồm mạch vành và động mạch chủ.
Theo nghiên cứu Rotterdam công bố năm 1996 trên dữ liệu ban đầu từ 1.000 người từ 55 tuổi trở lên (trong tổng số 7.983 người theo dõi), khi độ dày lớp nội mạc trung mạc động mạch cảnh chung tăng thêm 1 độ lệch chuẩn (tương đương 0,19 mm), nguy cơ xuất hiện mảng bám tại chỗ chia đôi động mạch cảnh tăng gấp đôi (tỷ số chênh OR 2,0; khoảng tin cậy 95% CI: 1,6 - 2,4) [2]. Sự gia tăng này cũng làm tăng 1,4 lần nguy cơ hẹp động mạch cảnh trong có ý nghĩa huyết động từ 50% trở lên (95% CI: 1,0 - 2,0) [2].
Ở nhóm có IMT trên 0,89 mm (nhóm 20% cao nhất), nguy cơ có mảng bám cao gấp 6,0 lần so với nhóm có IMT dưới 0,63 mm (nhóm 20% thấp nhất) [2]. Nguy cơ hẹp động mạch cảnh trong ở nhóm này cũng tăng với nguy cơ tương đối là 2,8 [2].
Tại động mạch chủ, nghiên cứu hồi cứu năm 2002 trên 64 bệnh nhân đột quỵ thiếu máu cục bộ (tuổi trung bình 65, 59% nữ) ghi nhận 39 người (61%) bị xơ vữa động mạch cảnh với IMT từ 1 mm trở lên [3]. Trong số 7 bệnh nhân (11%) có xơ vữa động mạch chủ phức tạp (mảng xơ vữa nhô ra dày từ 4 mm trở lên, mảnh vụn di động hoặc loét mảng bám), tỷ lệ có IMT từ 2 mm trở lên chiếm 86%, cao hơn hẳn mức 35% ở nhóm không có tổn thương phức tạp (p = 0,02) [3].
Ngưỡng IMT từ 2 mm trở lên đạt độ nhạy 86%, độ đặc hiệu 65%, giá trị dự đoán âm tính 97% trong chẩn đoán xơ vữa động mạch chủ phức tạp [3]. Khi chỉ số này dưới 2 mm, khả năng xuất hiện tổn thương phức tạp tại động mạch chủ là rất thấp [3].
Mối liên hệ giữa IMT và xơ vữa động mạch vành cũng được xác nhận qua giải phẫu tử thi. Nghiên cứu năm 2005 trên 40 ca tử thi có tiền sử đái tháo đường, tăng huyết áp hoặc cả hai, cùng 10 ca đối chứng, cho thấy IMT của động mạch cảnh chung và động mạch cảnh trong dự báo tốt các biến cố mạch vành [4]. Phân tích thống kê chỉ ra mối tương quan thuận có ý nghĩa giữa độ dày IMT và tỷ lệ phần trăm tắc nghẽn trong lòng động mạch vành, dù chỉ số này không phản ánh tình trạng tuần hoàn bàng hệ [4].
Các yếu tố thúc đẩy tổn thương dày thành mạch
Độ dày thành mạch chịu tác động từ nhiều yếu tố nguy cơ chuyển hóa và bệnh lý nền từ rất sớm. Xơ vữa mạch máu là quá trình diễn tiến âm thầm qua nhiều năm.
Tại nhóm bệnh nhân đái tháo đường, nghiên cứu năm 2005 so sánh 41 bệnh nhân đái tháo đường có huyết áp bình thường với 31 người đối chứng cho thấy sự bất thường của IMT giúp phát hiện sớm xơ vữa động mạch ngay cả khi các chỉ số lipid máu gần như bình thường [5]. Nghiên cứu cũng xác nhận mối quan hệ tuyến tính giữa chỉ số đường huyết lúc đói, đường huyết sau ăn với độ dày IMT [5].
Ở bệnh nhân suy thận phải lọc máu, nguy cơ tổn thương mạch máu tăng cao. Nghiên cứu năm 2003 trên 45 bệnh nhân lọc máu (15 người lọc màng bụng, 30 người chạy thận nhân tạo) và 20 người đối chứng khỏe mạnh cho thấy giá trị IMT trung bình ở nhóm lọc máu cao hơn hẳn nhóm đối chứng [6].
Khi phân tách nhóm bệnh nhân có IMT lớn hơn 0,720 mm, các nhà nghiên cứu ghi nhận mối tương quan thuận có ý nghĩa thống kê giữa độ dày thành mạch với nồng độ cholesterol LDL, VLDL, chỉ số khối cơ thể (BMI) và các chỉ số huyết áp tâm thu, tâm trương, huyết áp trung bình [6].
Quá trình dày nội mạc mạch máu thậm chí xuất hiện từ lứa tuổi thanh thiếu niên. Nghiên cứu năm 2007 trên 79 trẻ em (42 trẻ từ 5 đến 9 tuổi, 37 trẻ từ 10 đến 18 tuổi) ghi nhận trẻ có tiền sử gia đình tăng huyết áp, béo phì hoặc rối loạn lipid máu có tỷ lệ tăng IMT cao hơn có ý nghĩa (p < 0,05) [7]. Huyết áp tâm trương và chỉ số xơ vữa là hai yếu tố nguy cơ chính làm dày thành mạch ở cả hai nhóm tuổi [7].
Nghiên cứu năm 2021 trên trẻ em và thanh thiếu niên mắc tim bẩm sinh cho thấy IMT trung bình đạt 0,518 mm, với 46,7% đối tượng có biểu hiện xơ vữa tiền lâm sàng (IMT từ bách phân vị thứ 97 trở lên) [8]. Sau khi hiệu chỉnh, tiền sử phẫu thuật tim (OR 3,17; 95% CI: 1,35 - 7,48) và từng nhập viện điều trị nhiễm trùng (OR 1,92; 95% CI: 1,04 - 3,54) làm tăng đáng kể nguy cơ dày thành mạch [8].
Thực tế bằng chứng về natto đối với xơ vữa động mạch
Mặc dù siêu âm đo CCA-IMT là công cụ chuẩn xác và nhạy bén để đánh giá các liệu pháp làm giảm mảng xơ vữa, hiện tại không có dữ liệu lâm sàng nào ghi nhận việc sử dụng natto hay enzyme nattokinase dẫn đến sự suy giảm độ dày nội mạc động mạch cảnh.
Các quảng cáo xem natto như thần dược làm sạch lòng mạch hay tiêu hủy mảng xơ vữa là hoàn toàn thiếu căn cứ khoa học xác thực. Tổn thương thành mạch liên quan chặt chẽ đến sự tích tụ lipid, phản ứng viêm mạn tính và biến đổi cấu trúc tế bào cơ trơn. Không có nghiên cứu can thiệp đối chứng nào cho thấy việc bổ sung thực phẩm này qua đường tiêu hóa có thể làm mỏng lớp nội mạc hoặc đảo ngược quá trình vôi hóa mạch máu trên người.
Việc hiểu sai công dụng của thực phẩm chức năng hoặc món ăn truyền thống dễ dẫn đến tâm lý chủ quan. Người bệnh có thể bỏ qua các biện pháp can thiệp y tế đã được kiểm chứng như kiểm soát huyết áp, điều chỉnh mỡ máu bằng thuốc chuyên khoa hoặc kiểm soát đường huyết.
Nhóm đối tượng cần thận trọng khi sử dụng
Natto là thực phẩm lên men giàu dinh dưỡng nhưng không phù hợp cho tất cả mọi người, đặc biệt là nhóm đang điều trị bệnh lý tim mạch.
Do natto chứa hàm lượng vitamin K tự nhiên rất cao, những người đang sử dụng thuốc chống đông kháng vitamin K (như warfarin) cần đặc biệt lưu ý. Vitamin K đối kháng trực tiếp với cơ chế của thuốc, làm giảm tác dụng chống đông và gia tăng nguy cơ hình thành huyết khối gây đột quỵ hoặc thuyên tắc mạch.
Các trường hợp chuẩn bị phẫu thuật hoặc có rối loạn đông máu cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng thường xuyên các chế phẩm chiết xuất từ natto liều cao. Người có bệnh lý nền về chuyển hóa, tăng huyết áp hoặc đái tháo đường tuyệt đối không tự ý ngưng phác đồ điều trị của bác sĩ để thay thế bằng natto.
Áp dụng chế độ ăn uống khoa học cho sức khỏe tim mạch
Thay vì phụ thuộc vào một loại thực phẩm đơn lẻ với kỳ vọng chữa bệnh mạch máu, việc chăm sóc hệ tuần hoàn cần dựa trên lối sống khoa học toàn diện.
Nếu yêu thích hương vị của natto, bạn có thể đưa món ăn này vào thực đơn hàng ngày như một nguồn cung cấp protein thực vật và dưỡng chất lên men lành mạnh. Natto có thể dùng kèm cơm, cháo hoặc các món rau trong các bữa ăn chính để tăng tính đa dạng cho khẩu phần.
Bên cạnh đó, việc ngăn ngừa xơ vữa mạch máu đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa việc giảm tiêu thụ muối, hạn chế chất béo bão hòa, kiểm soát cân nặng và duy trì vận động thể chất đều đặn. Định kỳ kiểm tra huyết áp, mỡ máu và đường huyết giúp phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường để can thiệp kịp thời trước khi cấu trúc mạch máu bị tổn thương nghiêm trọng.
Natto là một món ăn truyền thống có giá trị dinh dưỡng tốt nhưng không có khả năng làm giảm xơ vữa mạch máu hay làm mỏng lớp nội mạc động mạch cảnh như lời đồn. Người tiêu dùng cần duy trì cái nhìn khách quan, không xem thực phẩm là thuốc điều trị và luôn tham vấn ý kiến chuyên môn từ bác sĩ để bảo vệ sức khỏe tim mạch một cách an toàn, hiệu quả.








