Nhầm lẫn phổ biến từ tên gọi thảo dược

Nhiều người thường cho rằng mọi loài thuộc chi ngải đều sở hữu hoạt tính trị bệnh sốt rét giống nhau. Khi hay tin chiết xuất từ cây ngải được nhận giải Nobel Y học năm 2015, không ít bệnh nhân đổ xô tìm kiếm các cây cỏ bản địa hoặc dược liệu cùng họ để sắc uống phòng ngừa [1].

Thực tế, ngải Ấn Độ (Artemisia indica) hoàn toàn không phải là cây thanh hao hoa vàng (Artemisia annua). Dù cùng thuộc chi ngải (Artemisia), việc dùng ngải Ấn Độ để tự trị sốt rét là một sai lầm nguy hại, xuất phát từ việc đánh đồng các loài thực vật có họ hàng gần với nhau.

Nghiên cứu khoa học xác nhận rằng hoạt chất artemisinin – vũ khí chủ lực tiêu diệt ký sinh trùng sốt rét – không tồn tại trong lá ngải Ấn Độ [2]. Người dân tuyệt đối không thể thay thế phác đồ điều trị chuẩn bằng bất kỳ bài thuốc dân gian nào từ loài cây này.

Cơ chế tác động và sự khác biệt sinh học

Thanh hao hoa vàng (Artemisia annua) nổi tiếng nhờ chứa artemisinin, một hợp chất endoperoxide sesquiterpene lactone tập trung chủ yếu ở phần lá và cụm hoa [3]. Khi đi vào cơ thể, artemisinin tác động trực tiếp và phá hủy ký sinh trùng Plasmodium falciparum, kể cả các chủng đã kháng thuốc chloroquine [4].

Hàm lượng artemisinin tự nhiên trong cây thanh hao hoa vàng khá thấp, dao động từ 0,01% đến 1% [4] hoặc lên tới 1,1% trọng lượng khô [5]. Ngay cả trong loài này, nồng độ hoạt chất thay đổi rất lớn tùy điều kiện gieo trồng và chiết xuất, dao động từ 5,9 mcg/g đến 109 mcg/mL [6]. Để kiểm soát sốt rét, giới y khoa phải chiết tách hoạt chất tinh khiết để phối chế thành liệu pháp kết hợp có artemisinin (ACT) [5].

Trái lại, ngải Ấn Độ (Artemisia indica) không chứa hoạt chất artemisinin trong toàn bộ các phân đoạn chiết xuất [2]. Tuy nhiên, loài này lại chứa các polymethoxyflavonoid như eupatin, casticin, chrysoplenetin, cirsilineol, chrysophenol-D và artemetin [2]. Tinh dầu của cây chứa 92 hợp chất, chủ yếu là camphor (13,0%) và caryophyllene oxide (10,87%) [2]. Các chất này có tác dụng ức chế enzym sinh tổng hợp acid béo của ký sinh trùng (PfFAS-II) trong ống nghiệm, tạo ra một cơ chế kháng nguyên sinh động vật hoàn toàn khác [2].

Bằng chứng khoa học về ngải Ấn Độ

Một công bố năm 2015 đã tiến hành khảo sát kỹ lưỡng thành phần và hoạt tính của cây ngải Ấn Độ thu hái tại vùng Tây Bengal [2]. Nghiên cứu sử dụng kỹ thuật HPLC-DAD và HPLC-MS để phân tích các mẫu chiết bằng nhiều dung môi phân cực khác nhau gồm ete dầu mỏ, n-hexane, dichloromethane, axeton, methanol, ethanol (ở các độ 96%, 80%, 60%) và nước nóng [2].

Kết quả phân tích cho thấy hoạt chất artemisinin hoàn toàn vắng mặt trong tất cả các mẫu chiết của cây ngải Ấn Độ [2]. Cao chiết axeton và ethanol sở hữu hàm lượng polymethoxyflavonoid cao nhất, trong khi dịch hãm nước nóng thông thường lại không tìm thấy bất kỳ flavonoid nào [2]. Hợp chất chrysoplenetin xuất hiện trong mọi dịch chiết hữu cơ, còn chrysophenol-D và artemetin không ghi nhận được trong các phân đoạn còn lại [2].

Khi thử nghiệm hoạt tính sinh học trong phòng thí nghiệm, toàn bộ dịch chiết dung môi và tinh dầu bay hơi của ngải Ấn Độ đều thể hiện hoạt tính chống ký sinh trùng sốt rét trong ống nghiệm [2]. Chúng cũng biểu hiện tiềm năng ức chế ít nhất hai enzym sinh tổng hợp acid béo tái tổ hợp của ký sinh trùng (PfFAS-II) [2]. Đồng thời, ngoại trừ dịch hãm nước nóng, các dịch chiết còn lại đều có tác dụng chống các loại nguyên sinh động vật ký sinh khác và biểu hiện độc tính thấp đối với tế bào động vật có vú [2]. Dù vậy, toàn bộ các dữ liệu này mới dừng lại ở mức thử nghiệm ống nghiệm (in vitro), chưa từng được thử nghiệm trên động vật hay cơ thể người [2].

Nghiên cứu trên các loài ngải khác

Chi ngải có độ đa dạng sinh học vô cùng lớn với khoảng 500 loài khác nhau trên toàn thế giới [1]. Dữ liệu dân tộc thực vật học ghi nhận 117 loài từng được người bản địa dùng để giảm triệu chứng sốt rét [1]. Phương pháp phân tích phát sinh loài kết hợp LC-MS/MS trên 15 loài đã phát hiện artemisinin trong 9 loài, trong đó có 8 loài lần đầu tiên được ghi nhận chứa phân tử này [1].

Năm 2022, một nghiên cứu tại Algeria phân tích ba loài ngải mọc hoang bằng phương pháp HPLC đã tìm thấy artemisinin với tỷ lệ 0,64% ở A. campestris, 0,34% ở A. herba-alba và 0,04% ở A. judaica [7]. Nồng độ hoạt chất trong loài A. campestris thậm chí còn cao hơn hàm lượng ghi nhận được trên A. sieberi và A. annua trong cùng nghiên cứu [7]. Bên cạnh đó, dịch chiết methanol của cả ba loài này đều thể hiện năng lực chống oxy hóa rõ rệt [7].

Ngoài hoạt chất chính, nhiều hợp chất tự nhiên khác trong các loài ngải có khả năng ức chế những con đường chuyển hóa khác nhau của ký sinh trùng, tạo tác động cộng hưởng [8]. Đơn cử như loài A. afra, dù không chứa artemisinin, vẫn cho thấy tiềm năng kháng sốt rét và kháng sán máng tương đương A. annua trong các mô hình thử nghiệm nhờ cơ chế đa hoạt chất [8].

Giới hạn nghiên cứu và hiểu lầm nguy hại

Rất nhiều người nhầm tưởng rằng cứ đun nước lá ngải Ấn Độ uống là có thể phòng hoặc chữa được bệnh sốt rét. Đây là quan điểm cực kỳ nguy hiểm và sai lệch bản chất khoa học.

Khảo sát phòng thí nghiệm đã chỉ ra rằng dịch hãm ngải Ấn Độ bằng nước sôi – cách chế biến giống pha trà truyền thống – không chiết xuất được các hợp chất flavonoid quý và hoàn toàn mất hoạt tính kháng nguyên sinh động vật [2]. Việc tự ý hái lá ngải sắc uống sẽ không mang lại bất kỳ nồng độ dược chất hữu hiệu nào vào máu [2].

Quan trọng hơn, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo không sử dụng bất kỳ dạng nguyên liệu thô nào từ cây thanh hao hoa vàng (A. annua), kể cả trà túi lọc hay nước sắc, để điều trị hoặc phòng ngừa sốt rét [8]. Việc sử dụng thảo mộc thô chứa liều lượng hoạt chất không đồng nhất sẽ đẩy người bệnh vào nguy cơ thất bại điều trị, thậm chí thúc đẩy ký sinh trùng sốt rét phát triển đột biến kháng artemisinin [8]. Mọi nghiên cứu về ngải Ấn Độ hiện nay mới chỉ thực hiện trên tế bào và mô hình enzyme nhân tạo, chưa có bất kỳ bằng chứng an toàn hay hiệu lực lâm sàng nào trên cơ thể người [2].

Ai cần đặc biệt thận trọng?

Người nghi ngờ hoặc đã có chẩn đoán sốt rét tuyệt đối không được tự ý trì hoãn phác đồ bệnh viện để uống nước lá ngải Ấn Độ [8]. Sốt rét do Plasmodium falciparum có thể diễn tiến ác tính dẫn đến biến chứng sốt rét thể não, suy tạng và tử vong nếu không được điều trị kịp thời bằng thuốc đặc hiệu [4].

Phụ nữ mang thai, bà mẹ đang nuôi con bú, trẻ nhỏ và người có bệnh lý nền suy gan, suy thận cần cẩn trọng tối đa. Hiện nay hoàn toàn chưa có bất kỳ nghiên cứu độc học hoặc thử nghiệm lâm sàng nào về ngải Ấn Độ trên các nhóm đối tượng đặc biệt này [2]. Người dân không tự ý bào chế, ngâm rượu hay uống dịch chiết cô đặc để tránh nguy cơ ngộ độc gan, thận.

Người đang dùng thuốc chuyển hóa qua gan cũng cần tránh tự ý bổ sung các loại tinh dầu hay dịch chiết thảo dược từ chi ngải. Dù thử nghiệm cho thấy độc tính tế bào thấp trên mô hình tế bào động vật có vú [2], độ an toàn thực tế trên người vẫn chưa được xác lập và cần hỏi ý kiến bác sĩ điều trị.

Áp dụng khoa học vào đời sống

Ngải Ấn Độ chỉ là đối tượng trong nghiên cứu dược liệu học nhằm tìm kiếm các hoạt chất mới hỗ trợ ức chế sinh tổng hợp acid béo của mầm bệnh [2]. Loài cây này không phải là thuốc và không có giá trị thay thế thuốc sốt rét đã được cấp phép lưu hành [2].

Khi sinh sống hoặc di chuyển tới những vùng có dịch sốt rét lưu hành, người dân cần tuân thủ triệt để các biện pháp dự phòng y tế chuẩn mực như ngủ màn tẩm hóa chất, phun thuốc xua muỗi và uống thuốc phòng theo chỉ định y khoa. Khi xuất hiện các cơn sốt cao, rét run kèm vã mồ hôi, người bệnh phải đến ngay cơ sở y tế gần nhất để xét nghiệm máu tìm ký sinh trùng sốt rét và nhận phác đồ điều trị chuẩn ACT [5].

Các loại thảo dược cùng chi ngải nếu được dùng trong ẩm thực hoặc kinh nghiệm dân gian chỉ nên dừng lại ở mức hỗ trợ nâng cao sức khỏe chung nhờ các chất chống oxy hóa [7]. Người bệnh có vấn đề sức khỏe cần tham khảo ý kiến chuyên môn từ bác sĩ chuyên khoa hoặc chuyên gia dinh dưỡng trước khi sử dụng bất kỳ sản phẩm thảo mộc cô đặc nào.

Ngải Ấn Độ không chứa hoạt chất artemisinin trị sốt rét như cây thanh hao hoa vàng [2]. Các hoạt tính ức chế sinh học mới chỉ được ghi nhận trong ống nghiệm và việc sắc nước uống hoàn toàn không có tác dụng kháng ký sinh trùng [2]. Người dân cần tỉnh táo trước các lời đồn thổi truyền miệng, tuân thủ hướng dẫn điều trị của thầy thuốc để bảo vệ tính mạng bản thân.