Nhiều người phát hiện gan nhiễm mỡ vội tìm kiếm các loại thực phẩm chức năng chống oxy hóa để bảo vệ tế bào gan. Selen thường được nhắc đến như một khoáng chất giúp tăng cường miễn dịch và bảo vệ tế bào [1]. Tuy nhiên, việc tự ý bổ sung selen dạng viên uống có thực sự an toàn cho người đang mắc bệnh lý gan chuyển hóa hay không?

Câu trả lời dựa trên bằng chứng khoa học hiện tại là: người bệnh gan nhiễm mỡ không nên tự ý uống thêm selen nếu chưa được bác sĩ chỉ định. Dữ liệu dịch tễ học và lâm sàng cho thấy lượng selen trong máu cao hoặc nạp selen quá mức có mối liên hệ thuận với tỷ lệ mắc gan nhiễm mỡ và tình trạng tăng men gan [2, 6].

Selen và tế bào gan: Lợi ích hay rủi ro?

Selen là vi chất dinh dưỡng thiết yếu, thành phần then chốt cấu tạo nên các selenoprotein có tác dụng chống oxy hóa và điều hòa phản ứng viêm trong cơ thể [1]. Ở mức sinh lý bình thường, cơ thể cần selen để duy trì hàng rào phòng ngự chống lại hiện tượng stress oxy hóa và nhiễm trùng [1].

Tuy nhiên, ranh giới an toàn của selen trong cơ thể rất hẹp. Ở động vật, tiếp xúc với selen liều cao gây kháng insulin tại gan và làm tăng tích tụ nồng độ triglyceride trong mô gan [2]. Những biến đổi bệnh lý này là yếu tố cốt lõi thúc đẩy quá trình hình thành bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu [2].

Phân tích sinh học điện toán trên mẫu mô gan người năm 2021 ghi nhận mạng lưới biểu hiện gen selenoprotein có sự thay đổi rõ rệt giữa người khỏe mạnh và người bệnh [3]. Ở mô gan của bệnh nhân viêm gan thoái hóa mỡ (NASH), biểu hiện các gen như SCLY và SELENOO giảm sút so với người khỏe mạnh không béo phì [3]. Ngược lại, các gen mã hóa SELENOM, DIO1, GPX2 và GPX3 lại tăng biểu hiện mạnh khi so sánh với nhóm chứng béo phì [3]. Nhóm bệnh lý còn ghi nhận biểu hiện giảm chất vận chuyển sắt và tăng tiểu đơn vị ferritin, cho thấy rối loạn cân bằng selen đi kèm bất thường chuyển hóa sắt tại gan [3].

Bằng chứng dịch tễ về men gan và nồng độ selen máu

Nhiều nghiên cứu quy mô lớn trên người đã theo dõi nồng độ selen trong máu cùng chỉ số men gan. Đáng chú ý nhất là số liệu từ khảo sát dinh dưỡng quốc gia Hoa Kỳ NHANES thu thập từ năm 2011 đến 2016 trên 3.827 người trưởng thành từ 20 tuổi trở lên [4]. Nghiên cứu loại trừ các đối tượng viêm gan virus, ứ sắt hoặc bệnh gan do rượu [4]. Ca nghi ngờ gan nhiễm mỡ được xác định khi men gan ALT > 30 IU/L ở nam và > 19 IU/L ở nữ [4].

Kết quả ghi nhận trung vị selen huyết thanh ở mức 127,9 mcg/L [4]. Mối liên hệ giữa selen máu với men gan ALT và tỷ lệ gan nhiễm mỡ xuất hiện theo dạng phi tuyến tính [4]. Khi nồng độ selen huyết thanh vượt qua ngưỡng khoảng 130 mcg/L, mối liên hệ thuận xuất hiện rõ nét: selen càng cao thì men ALT càng tăng và tỷ lệ nghi ngờ gan nhiễm mỡ càng lớn [4]. Ngược lại, ở dải nồng độ dưới 130 mcg/L, đồ thị phẳng và không ghi nhận mối liên hệ này [4].

Một nghiên cứu cắt ngang thực hiện tại Thượng Hải (Trung Quốc) công bố năm 2016 trên 8.550 người trưởng thành từ 40 tuổi trở lên cũng khẳng định điều tương tự [2]. Nồng độ trung vị selen huyết tương của nhóm khảo sát đạt 213,0 mcg/L [2]. Nồng độ selen huyết tương tăng cao liên quan trực tiếp đến sự gia tăng nồng độ đường huyết đói, đường huyết sau ăn, HbA1c, chỉ số kháng insulin HOMA-IR, triglyceride và chỉ số LDL-cholesterol [2].

Đặc biệt, selen huyết tương tăng đi kèm với tăng hoạt độ các men gan gồm ALT, AST và gamma-GT [2]. Khi so sánh giữa nhóm có selen huyết tương cao nhất với nhóm thấp nhất, tỷ số chênh mắc gan nhiễm mỡ trên siêu âm tăng tới 1,54 lần (khoảng tin cậy 95%: 1,13–2,18) sau khi hiệu chỉnh toàn bộ yếu tố nhiễu [2].

Mối liên hệ giữa lượng selen trong chế độ ăn và nguy cơ mắc bệnh

Không chỉ selen trong huyết tương, lượng selen nạp vào qua đường ăn uống hàng ngày cũng cho thấy xu hướng liên quan đến bệnh lý gan thoái hóa mỡ. Một nghiên cứu cắt ngang năm 2020 trên 5.436 người trung niên và cao tuổi tại Trung Quốc đã phân tích thói quen dinh dưỡng qua bảng câu hỏi [5]. Tỷ lệ mắc gan nhiễm mỡ chẩn đoán qua chẩn đoán hình ảnh hoặc mô học trong nghiên cứu này chiếm 36,8% [5].

Kết quả cho thấy lượng selen ăn vào tỷ lệ thuận với nguy cơ gan nhiễm mỡ theo mô hình đáp ứng liều lượng [5]. So với nhóm ăn ít selen nhất, tỷ số chênh mắc bệnh ở nhóm tiêu thụ selen thứ ba là 1,27 (KTC 95%: 1,07–1,52), nhóm thứ tư là 1,30 (KTC 95%: 1,09–1,55) và nhóm ăn nhiều nhất lên tới 1,58 (KTC 95%: 1,33–1,89) [5]. Xu hướng này đồng nhất ở cả hai giới và vẫn duy trì ngay cả khi mức tiêu thụ selen nằm dưới ngưỡng khuyến nghị tại Trung Quốc [5].

Năm 2023, một nghiên cứu tại Iran dựa trên số liệu của 3.026 người thuộc nghiên cứu đoàn hệ PERSIAN Kavar cũng đánh giá lượng selen dinh dưỡng qua chỉ số mỡ gan FLI và HSI [6]. Tỷ lệ gan nhiễm mỡ đạt 56,4% theo chỉ số FLI và 51,9% theo chỉ số HSI [6]. Nhóm có lượng selen ăn vào ở mức ngũ phân vị thứ tư và thứ năm có tỷ số chênh mắc gan nhiễm mỡ theo thang FLI lần lượt là 1,31 (KTC 95%: 1,01–1,70) và 1,50 (KTC 95%: 1,13–1,99) sau khi điều chỉnh các yếu tố lối sống [6]. Đánh giá qua thang HSI cũng ghi nhận kết quả tương tự với OR lần lượt là 1,34 và 1,50 [6].

Tác động phức tạp của selen lên xơ hóa gan tiến triển

Mặc dù selen liều cao liên quan đến tình trạng thoái hóa mỡ và tăng men gan, tác động của khoáng chất này đối với giai đoạn xơ hóa gan tiến triển lại bộc lộ khía cạnh hoàn toàn khác. Một nghiên cứu trên 3.336 người từ dữ liệu NHANES 2017–2018 sử dụng kỹ thuật đo độ đàn hồi gan VCTE để đánh giá độ cứng của gan [7].

Nghiên cứu này tái khẳng định rằng nhóm có nồng độ selen máu cao nhất (>205,32 đến 453,62 mcg/L) có mối liên hệ thuận với tình trạng gan nhiễm mỡ (hệ số beta = 1,31) [7]. Tuy nhiên, ở khía cạnh xơ hóa, selen máu mức cao lại có liên hệ nghịch với tình trạng xơ hóa gan tiến triển (hệ số beta = 0,61), đặc biệt quan sát thấy rõ nhất ở nam giới [7]. Nhóm đối tượng có nồng độ selen trong máu thấp lại chiếm tỷ lệ xơ hóa gan tiến triển cao hơn [7].

Điều này gợi ý rằng bệnh gan nhiễm mỡ và tình trạng xơ hóa gan liên quan mật thiết đến sự mất cân bằng điều hòa nội môi selen trong cơ thể chứ không đơn thuần chỉ phụ thuộc vào lượng selen ăn vào [7]. Tình trạng thiếu hụt vi chất dinh dưỡng nói chung, bao gồm cả selen, khi rơi vào trạng thái "nạn đói tiềm ẩn" có thể làm trầm trọng thêm các rối loạn chuyển hóa và thúc đẩy tổn thương gan tiến triển sang viêm gan NASH hoặc xơ gan [8].

Hiểu lầm thường gặp khi dùng thực phẩm bổ sung selen

Nhiều người nhầm tưởng rằng selen là chất chống oxy hóa tự nhiên thì uống càng nhiều gan càng được bảo vệ tốt. Đây là sai lầm nguy hiểm. Cơ thể người chỉ cần một lượng selen rất nhỏ để duy trì hoạt động bình thường của hệ miễn dịch và bảo vệ tế bào [1]. Nhu cầu khuyến nghị hàng ngày (RDA) đối với người lớn trên 19 tuổi chỉ ở mức 55 mcg/ngày [1].

Giới hạn tiêu thụ tối đa có thể dung nạp (UL) cho người trưởng thành, bao gồm cả phụ nữ mang thai hoặc cho con bú, là 400 mcg/ngày [1]. Nếu vượt ngưỡng này hoặc dùng tích tụ kéo dài, selen có thể gây độc hại cho cơ thể [1]. Việc tự ý mua viên uống selen liều cao khi chưa làm xét nghiệm vi chất vô tình làm tăng gánh nặng chuyển hóa mỡ tại gan và đẩy men ALT lên cao [2, 6].

Nhóm đối tượng cần đặc biệt thận trọng

Những người đã được chẩn đoán mắc gan nhiễm mỡ, người có men gan ALT, AST hoặc gamma-GT tăng cao không rõ nguyên nhân không được tự ý sử dụng các chế phẩm bổ sung chứa selen [2, 6].

Bệnh nhân mắc hội chứng chuyển hóa, đái tháo đường típ 2, béo phì hoặc rối loạn lipid máu cần cẩn trọng tối đa. Các bằng chứng dịch tễ cho thấy selen máu cao đi liền với tình trạng kháng insulin nặng hơn và tăng nồng độ triglyceride máu [2]. Bất kỳ can thiệp vi chất nào trên nhóm người này đều cần có sự thăm khám, chỉ định và theo dõi sát sao từ bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa - gan mật.

Lời khuyên áp dụng thực tế và chế độ dinh dưỡng an toàn

Thay vì tìm đến các viên uống thực phẩm chức năng, người bệnh gan nhiễm mỡ nên duy trì nhu cầu selen thông qua chế độ ăn cân bằng, tự nhiên. Selen có mặt phổ biến trong các nhóm thực phẩm hàng ngày gồm: thịt, cá, trứng, sữa, bánh mì và các loại ngũ cốc [1].

Hàm lượng selen nội sinh tích lũy trong thực vật vốn phụ thuộc chặt chẽ vào nồng độ selen trong đất của từng khu vực địa lý [1]. Việc ăn uống đa dạng các nhóm thực phẩm tự nhiên giúp cơ thể hấp thu đủ lượng selen cần thiết ở mức khuyến nghị 55 mcg/ngày mà không lo chạm ngưỡng quá liều [1].

Người bệnh gan nhiễm mỡ tuyệt đối không tự ý uống các viên selen đơn lẻ. Mọi biện pháp dùng thực phẩm bổ sung liều cao khi đang có bệnh nền cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa để tránh làm tăng men gan và rối loạn mỡ máu. Một lối sống vận động, kiểm soát cân nặng và dinh dưỡng cân bằng luôn là giải pháp nền tảng giúp phục hồi sức khỏe lá gan.