Nhiều người gặp tình trạng cứ ăn no là bụng lại đau quặn, đầy hơi hoặc phải tìm nhà vệ sinh gấp. Thói quen ăn dồn vào các bữa chính khiến đường ruột luôn trong tình trạng quá tải và dễ kích phát cơn đau.

Người mắc hội chứng ruột kích thích (IBS) nên chia nhỏ khẩu phần ăn trong ngày thành nhiều bữa ít hơn. Việc giảm thể tích thức ăn đưa vào mỗi lần giúp hạn chế sự co bóp quá mức của ống tiêu hóa và xoa dịu phản xạ dạ dày - đại tràng vốn đang nhạy cảm quá mức.

Hội chứng ruột kích thích là rối loạn tiêu hóa mạn tính, ước tính ảnh hưởng đến khoảng 10% dân số toàn cầu [1]. Triệu chứng lâm sàng điển hình gồm đau bụng, khó chịu, chướng hơi, mót rặn, cảm giác đi ngoài không hết phân, kèm tiêu chảy hoặc táo bón xen kẽ [2].

Gánh nặng sau bữa ăn và phản xạ đường ruột

Ở người khỏe mạnh, thức ăn nạp vào sẽ kích thích nhu động đẩy chất thải đi xuống nhịp nhàng. Nhưng với người mắc bệnh lý này, đau bụng thường khởi phát hoặc tăng nặng rõ rệt ngay sau các bữa ăn và không phải lúc nào cũng thuyên giảm sau khi đại tiện [2]. Phản ứng vận động quá mức đối với bữa ăn cùng tình trạng tăng nhạy cảm nội tạng là đặc điểm sinh lý bệnh phổ biến [3].

Đặc biệt, các triệu chứng liên quan đến bữa ăn là một trong những yếu tố có liên quan đến diễn tiến lâm sàng của bệnh nhân trong 1 năm theo dõi [4]. Một bữa ăn thể tích lớn nạp dồn dập khiến dạ dày và ruột non căng giãn đột ngột. Sự căng giãn này lập tức đánh động hệ thần kinh ruột vốn tăng phản ứng, gây nên các đợt co bóp dồn dập [2].

Ngoài ra, từ 1/3 đến 2/3 người bệnh có triệu chứng chồng lấp với chứng khó tiêu chức năng [3]. Nhóm này có thể đồng thời gặp phải hiện tượng chậm làm rỗng dạ dày hoặc rối loạn vận chuyển qua ruột non và đại tràng [3]. Do đó, việc chia nhỏ thể tích bữa ăn giúp giảm tức thì áp lực cơ học này.

Ruột non cũng tham gia vào các cơn đau quặn

Trước đây, bệnh thường chỉ được gán cho sự rối loạn của khung đại tràng, nhưng các bằng chứng cho thấy ruột non cũng giữ vai trò quan trọng trong việc tạo ra triệu chứng [5], [6]. Sự di chuyển của thức ăn rắn qua ruột non có sự khác biệt rõ rệt theo từng thể bệnh [5].

Một nghiên cứu năm 1983 đo lường thời gian thức ăn rắn đi qua dạ dày, ruột non và đại tràng trên 61 bệnh nhân cùng 53 người khỏe mạnh [5]. Kết quả cho thấy thời gian thức ăn đi qua ruột non ở người thể tiêu chảy ngắn hơn rõ rệt (3,3 ± 0,3 giờ so với 4,2 ± 0,2 giờ ở nhóm chứng), trong khi nhóm thể táo bón (5,4 ± 0,3 giờ) hoặc nhóm đau chướng bụng (5,4 ± 0,4 giờ) lại kéo dài hơn bình thường [5].

Thời gian vận chuyển toàn bộ ống tiêu hóa ở thể tiêu chảy ngắn hơn (35 ± 5 giờ so với 53 ± 4 giờ ở nhóm chứng), nhưng thể táo bón lại kéo dài tới 87 ± 13 giờ [5]. Nghiên cứu này ghi nhận 34 bệnh nhân bị đau bụng (đặc biệt ở hố chậu phải) trong quá trình thử nghiệm; ở 25 người (chiếm 74%), cơn đau bắt đầu khi cặn thức ăn vừa chạm tới manh tràng [5]. Điều này chứng minh thể tích khối bã thức ăn từ bữa ăn lớn di chuyển dồn dập có thể trực tiếp kích phát cơn đau quặn [5].

Bằng chứng về rối loạn co bóp sau kích thích ăn uống

Nghiên cứu áp lực trong lòng ruột non công bố năm 1987 trên 16 bệnh nhân (8 người thể tiêu chảy, 8 người thể táo bón) và 16 người đối chứng cho thấy sự biến đổi vận động rõ rệt sau bữa ăn nhiều chất béo [7]. Chu kỳ phức hợp điện cơ di chuyển (MMC) lúc đói giữa các đợt tiêu hóa ở người bệnh ngắn hơn nhóm chứng (p < 0,05) [7].

Cụ thể, chu kỳ ban ngày ở nhóm tiêu chảy chỉ là 77 ± 10 phút, ngắn hơn nhiều so với 118 ± 15 phút ở nhóm táo bón và 113 ± 10 phút ở người khỏe mạnh [7]. Hai dạng vận động bất thường xuất hiện nhiều hơn ở người bệnh: các đợt sóng đẩy ở hồi tràng và từng cụm áp lực tăng vọt ở hỗng tràng [7]. Đau bụng quặn thường xuất hiện trùng khớp lúc hồi tràng tăng sóng đẩy [7].

Năm 1988, một nghiên cứu khác trên 3 nhóm tình nguyện viên khỏe mạnh (mỗi nhóm 8 người) cùng bệnh nhân thể táo bón (n = 8) và thể tiêu chảy (n = 8) đã thử nghiệm các kích thích gồm truyền cholecystokinin-octapeptide (CCK-OP), bữa ăn giàu chất béo và làm căng bóng ở hồi tràng [6]. Bệnh nhân phản ứng quá mức trước bữa ăn béo và sự căng bóng hồi tràng, trong đó nhóm tiêu chảy nhạy cảm hơn nhóm táo bón, và vùng hồi tràng nhạy hơn hỗng tràng [6]. Các bất thường vận động này đi kèm sự xuất hiện của triệu chứng bụng [6].

Căng thẳng tâm lý làm tăng thêm rối loạn vận động

Đường ruột của người bệnh không chỉ nhạy cảm với thức ăn mà còn phản ứng mạnh với tâm lý. Năm 1985, một nghiên cứu theo dõi nhu động ruột non trên 22 bệnh nhân, 10 người khỏe mạnh và 5 người viêm ruột trong hơn 30 giờ ghi nhận: khi gặp căng thẳng tinh thần ngắt quãng, 19 bệnh nhân xuất hiện ít nhất một trong ba bất thường vận động (trong khi nhóm chứng chỉ có 1 người) [8].

Các bất thường này là sự biến mất hoàn toàn của phức hợp vận động di chuyển khi stress, cùng các đợt co bóp bất thường tự phát hoặc do stress kích thích [8]. Hoạt động co bóp bất thường này trùng khớp với sự xuất hiện triệu chứng bệnh [8]. Nam giới chiếm ưu thế ở nhóm có co bóp bất thường tự phát và có xu hướng nhiều triệu chứng hơn [8].

Một nghiên cứu năm 2017 trên 44 bệnh nhân dùng thang đo PRISM-RII khẳng định những người đánh giá bệnh ở mức độ nhẹ có cảm giác bệnh tách rời khỏi bản thân hơn, mức độ triệu chứng trung bình thấp hơn, lo âu đường ruột thấp hơn và chất lượng sống cao hơn [1]. Sự lo lắng, trầm cảm và stress cũng là các yếu tố liên quan đến tiên lượng bệnh sau 1 năm [4]. Việc một bữa ăn quá no làm bùng phát cơn đau dễ tạo ra vòng lặp tâm lý lo sợ, khiến ruột càng tăng co thắt [4], [1].

Giới hạn của bằng chứng và hiểu lầm thường gặp

Mặc dù việc chia nhỏ bữa ăn đem lại cơ sở sinh lý rõ ràng, các bằng chứng khoa học cũng cho thấy bệnh có tính chất phức tạp, khó khỏi dứt điểm. Nghiên cứu tiến cứu năm 2006 theo dõi 400 bệnh nhân theo tiêu chuẩn Rome II trong 1 năm cho thấy: dù một nửa bệnh nhân và bác sĩ nhận định bệnh có cải thiện, mức độ thuyên giảm thực tế ghi nhận qua nhật ký là nhỏ và không đồng đều [4].

Cụ thể sau 1 năm, tỷ lệ cải thiện chỉ đạt 19% ở triệu chứng tiêu chảy, 26% ở tần suất đau bụng, 33% ở táo bón và 60% ở cường độ đau bụng [4]. Triệu chứng nặng lúc ban đầu và sự cải thiện tốt ở mốc 3 tháng là yếu tố dự đoán tiên lượng tốt hơn [4]. Điều này cho thấy chỉ thay đổi kích thước bữa ăn là chưa đủ để giải quyết toàn bộ hội chứng.

Hiểu lầm phổ biến là nhịn ăn ngắt quãng dài rồi ăn một bữa thật lớn để "cho ruột nghỉ", điều này thực tế lại kích phát nhu động mạnh hơn do thể tích dồn tụ [5], [6]. Một hiểu lầm khác xem đây là bệnh dị ứng thuần túy; dù có hiện tượng thoái hóa bốc hạt một phần của tế bào mast ở niêm mạc ruột, đây không phải bệnh dị ứng [2]. Hiện tượng lên men carbohydrate bởi vi khuẩn đại tràng, tăng tiết cholecystokinin sau ăn béo hoặc tăng trương lực giao cảm khi stress đều có thể gây triệu chứng [2].

Ai nên thận trọng khi thay đổi chế độ ăn?

Người có bệnh nền dạ dày hoặc đái tháo đường cần tính toán kỹ thời gian giữa các bữa ăn nhỏ để tránh hạ đường huyết hoặc làm tăng tiết dịch vị quá mức. Người sụt cân không rõ nguyên nhân, sốt hoặc đi ngoài ra máu cần đi khám chuyên khoa để loại trừ các bệnh lý thực thể nguy hiểm khác.

Phụ nữ mang thai hoặc người cao tuổi suy dinh dưỡng không nên tự ý cắt giảm tổng năng lượng hàng ngày khi chia bữa. Khi đang dùng thuốc điều hòa nhu động ruột, thuốc giảm đau nội tạng hay thuốc hướng thần, người bệnh cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi thay đổi lịch sinh hoạt để đảm bảo hiệu quả hấp thu thuốc [3].

Cách chia nhỏ bữa ăn áp dụng vào thực tế

Để giảm tải cho đường ruột, người bệnh nên phân chia lượng thức ăn thông thường thành 4 đến 5 bữa nhỏ trong ngày thay vì 3 bữa lớn:

  • Khẩu phần mỗi bữa: Giảm 30-40% lượng thức ăn mỗi lần so với trước, dừng ăn khi cảm thấy vừa đủ, không ăn quá no gây căng giãn ống tiêu hóa [6].
  • Thành phần: Hạn chế các món quá giàu chất béo vì chất béo kích thích tăng tiết cholecystokinin và dễ gây rối loạn vận động ruột non [6], [2]. Hạn chế thực phẩm sinh hơi [2].
  • Thời điểm: Khoảng cách giữa các bữa nên cách nhau từ 2,5 đến 3,5 giờ để ruột non có thời gian vận chuyển chất cặn bã về manh tràng một cách êm dịu, hạn chế các đợt sóng đẩy dồn dập [5], [7].
  • Ăn chậm, nhai kỹ: Giúp giảm lượng khí nuốt vào và hỗ trợ tiêu hóa tốt hơn trước khi thức ăn xuống đến hỗng tràng và hồi tràng [5], [2].

Chia nhỏ bữa ăn là giải pháp thực hành đơn giản giúp kiểm soát triệu chứng của hội chứng ruột kích thích bằng cách giảm áp lực vận động lên ruột non và đại tràng. Người bệnh nên lắng nghe cơ thể, kết hợp giảm căng thẳng tâm lý và tuân thủ hướng dẫn y khoa để duy trì hệ tiêu hóa ổn định.