Thói quen truyền miệng và thực tế khoa học
Cây kim phượng (Caesalpinia pulcherrima) là loài cây cảnh quen thuộc với hoa đỏ cam rực rỡ xuất hiện ở nhiều công viên, sân vườn Việt Nam. Trong dân gian, nhiều người truyền tai nhau dùng lá kim phượng hãm nước uống để trị tiêu chảy, nhiễm trùng đường ruột hay viêm nhiễm ngoài da vì tin rằng thảo mộc tự nhiên lành tính.
Tuy nhiên, các bằng chứng khoa học cho thấy hoạt tính kháng khuẩn của kim phượng chủ yếu mới được ghi nhận trong phòng thí nghiệm (in vitro) trên các phân đoạn chiết xuất tinh khiết hoặc dịch chiết dung môi hữu cơ [1], [2]. Ngược lại, việc tự ý hái lá sắc uống tiềm ẩn nhiều rủi ro cho đường tiêu hóa do lá cây chứa các hợp chất có hoạt tính tẩy xổ mạnh, thậm chí gây co bóp cơ trơn nguy hiểm [3].
Hoạt tính kháng khuẩn: Nghiên cứu ống nghiệm cho thấy gì?
Các nghiên cứu sinh học ghi nhận cây kim phượng chứa nhiều nhóm chất thực vật có khả năng ức chế vi sinh vật. Tác dụng này được khảo sát trên cả vi khuẩn Gram âm lẫn vi khuẩn Gram dương trong điều kiện nuôi cấy phòng thí nghiệm [2], [4].
Năm 2006, một nghiên cứu đánh giá dịch chiết cồn từ quả khô của cây kim phượng cho thấy phổ kháng khuẩn rộng [2]. Thử nghiệm này ghi nhận khả năng ức chế đối với các chủng vi khuẩn thực nghiệm bao gồm vi khuẩn đường ruột Escherichia coli (E. coli), vi khuẩn gây mủ Staphylococcus aureus (tụ cầu vàng), Proteus vulgaris và Pseudomonas aeruginosa [2].
Nghiên cứu công bố năm 2020 cũng ghi nhận dịch chiết nước của cây kim phượng tạo ra vòng kháng khuẩn có đường kính 25 mm khi thử nghiệm ức chế sự phát triển của vi khuẩn E. coli [5]. Tuy nhiên, thử nghiệm này chỉ được thực hiện trên đĩa thạch trong phòng thí nghiệm để sàng lọc hoạt tính sinh học [5].
Ở mức độ phân lập hợp chất, nghiên cứu công bố năm 2023 đã tách chiết từ cây kim phượng 11 hợp chất cassane diterpenoid mới (đặt tên từ capulchemin A đến K) cùng 10 hợp chất sesquiterpene [1]. Trong đó, hoạt chất capulchemin A thể hiện hoạt tính kháng khuẩn mạnh đối với một số vi khuẩn gây bệnh thực vật và vi khuẩn Bacillus cereus, với nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) là 3,13 µM [1]. Nghiên cứu cơ chế cho thấy hợp chất này phá vỡ màng tế bào dẫn đến tiêu diệt vi khuẩn, mở ra hướng ứng dụng làm thuốc trừ khuẩn sinh học trong nông nghiệp [1].
Sự khác biệt giữa các bộ phận và kết quả chưa đồng nhất
Mặc dù nhiều báo cáo khẳng định tiềm năng kháng khuẩn của kim phượng, các bằng chứng khoa học cũng chỉ ra sự không đồng nhất lớn tùy thuộc vào bộ phận dùng và điều kiện môi trường sống của cây [4].
Nghiên cứu năm 2011 khảo sát các cây họ Đậu tại Malaysia ghi nhận dịch chiết kim phượng có thể ức chế vi nấm và một số vi khuẩn, nhưng trong sàng lọc sơ bộ của nhóm nghiên cứu, dịch chiết này hoàn toàn không ức chế được các vi khuẩn Gram âm [4]. Các nhà khoa học lý giải rằng yếu tố sinh thái và điều kiện sinh trưởng tác động rất lớn đến sự tích lũy hoạt chất [4]. Chẳng hạn, các nghiên cứu trước đó tìm thấy tannin, saponin và alkaloid ở các bộ phận trên mặt đất, nhưng nhóm tác giả năm 2011 lại không phát hiện alkaloid và saponin trong mẫu phân tích của mình [4].
Ngoài ra, các hoạt chất kháng khuẩn mạnh nhất thường được phân lập từ vỏ thân hoặc hoa chứ không riêng ở lá [4]. Ví dụ, các hợp chất flavonoid như 5,7-dimethylenedioxyflavanone, isobouducellin hay hợp chất 3-oxo-(20S,24S)-epoxydammarane-19,25-diacetate chiết từ vỏ thân cây kim phượng mới cho thấy hoạt tính ức chế tụ cầu S. aureus hay vi khuẩn gây lỵ Shigella dysenteriae (với MIC 32 µg/mL) [4]. Do đó, việc dùng lá tươi sắc nước hoàn toàn không đồng nghĩa với việc cơ thể hấp thu được các chất kháng khuẩn như trong thử nghiệm tinh khiết.
Nguy cơ tiềm ẩn khi tự ý sắc lá kim phượng uống
Trái ngược với suy nghĩ thảo mộc hái ngoài vườn là an toàn, lá kim phượng là bộ phận chứa nhiều chất có tác dụng dược lý mạnh, có thể gây kích ứng đường tiêu hóa nếu tự ý sử dụng qua đường uống [3].
Y văn ghi nhận trong y học cổ truyền một số nước, dịch ngâm lá kim phượng từng được sử dụng như một chất tẩy xổ mạnh (cathartic) và chất gây sảy thai (abortifacient) [3]. Tác dụng tẩy xổ này là nguyên nhân trực tiếp khiến người uống nước sắc lá kim phượng dễ gặp tình trạng đau bụng quặn thắt, buồn nôn, nôn mửa và tiêu chảy dữ dội. Vỏ cây cũng được ghi nhận có độc tính gây sảy thai tương tự [3].
Bên cạnh đó, nghiên cứu năm 2012 đánh giá độc tính tế bào của dịch chiết quả kim phượng qua thử nghiệm sinh học tôm ngâm nước muối (Brine Shrimp Lethality bioassay) cho thấy giá trị nồng độ gây chết 50% sinh vật thử nghiệm (LC50) dao động từ 750 µg/mL (chiết xuất ete dầu hỏa) đến 900 µg/mL (chiết xuất methanol) [6]. Dù các nghiên cứu trên chuột ghi nhận dịch chiết chuẩn hóa các bộ phận trên mặt đất ở liều 100-200 mg/kg thể trọng có hoạt tính chống loét và giảm viêm thực nghiệm [3], dịch chiết nước ở liều 250 mg/kg làm giảm một số chỉ số men gan và kháng khối u thực nghiệm [7], điều này chỉ đạt được trong môi trường thí nghiệm được kiểm soát nghiêm ngặt về liều lượng và độc tính.
Khi người dân tự ý hái lá đun nấu tại nhà, hàm lượng hoạt chất không thể kiểm soát, nguy cơ ngộ độc đường tiêu hóa và kích ứng niêm mạc ruột do tác dụng xổ của lá là rất cao [3].
Hiểu lầm thường gặp về "kháng sinh tự nhiên" từ cây cảnh
Hiểu lầm phổ biến nhất là đánh đồng hoạt tính kháng khuẩn trong ống nghiệm với hiệu quả chữa bệnh nhiễm trùng ở người. Việc một dịch chiết ức chế được vi khuẩn E. coli hay tụ cầu vàng trên đĩa thạch [2], [5] không có nghĩa là uống nước sắc của cây đó sẽ tiêu diệt được vi khuẩn gây bệnh trong cơ thể.
Khi đi qua đường tiêu hóa, các hợp chất hữu cơ bị dịch dạ dày và men gan chuyển hóa, nồng độ hoạt chất trong máu khó đạt tới ngưỡng ức chế vi khuẩn mà không gây độc tế bào. Hơn nữa, hoàn toàn chưa có bất kỳ thử nghiệm lâm sàng nào trên người chứng minh lá kim phượng trị được tiêu chảy hay nhiễm trùng.
Hiểu lầm thứ hai là quan niệm cây cỏ thiên nhiên không có độc tính. Dịch chiết lá kim phượng chứa nhiều nhóm hóa thực vật phức tạp như flavonoid, tannin, terpenoid, phenolics [4], [6], [3]. Trong đó, một số thành phần có thể gây co thắt cơ trơn đường ruột và tử cung mạnh [3].
Ai nên thận trọng tuyệt đối?
Hiện nay chưa có nghiên cứu khoa học an toàn về việc dùng lá kim phượng trên người, do đó người dân tuyệt đối không tự ý dùng qua đường uống. Đặc biệt, các nhóm đối tượng sau phải tuyệt đối tránh xa thảo dược này:
Phụ nữ mang thai và phụ nữ đang cho con bú: Các bộ phận của cây kim phượng, đặc biệt là lá và vỏ cây, đã được y văn ghi nhận có đặc tính kích thích co bóp cơ trơn tử cung và gây sảy thai [3]. Việc sử dụng có thể dẫn tới sảy thai, sinh non hoặc gây nguy hiểm trực tiếp đến tính mạng của người mẹ và thai nhi [3].
Người có bệnh lý tiêu hóa: Những người mắc viêm dạ dày, viêm ruột mạn tính, hội chứng ruột kích thích không được uống các loại trà hay nước hãm lá kim phượng vì hoạt tính tẩy xổ mạnh sẽ làm tổn thương niêm mạc, gây viêm loét và tiêu chảy cấp mất nước [3].
Trẻ em và người cao tuổi: Đây là những đối tượng có chức năng gan, thận và hệ tiêu hóa nhạy cảm, dễ rơi vào tình trạng ngộ độc, rối loạn điện giải nghiêm trọng nếu uống phải các thảo mộc chứa độc tính tẩy xổ tự nhiên.
Khuyến nghị áp dụng thực tế an toàn
Người dân không sử dụng lá hoặc bất kỳ bộ phận nào của cây kim phượng để sắc uống chữa bệnh nhiễm trùng tiêu hóa hay các bệnh nhiễm khuẩn khác. Hãy xem kim phượng đúng vai trò là một loài cây hoa cảnh che bóng mát và tạo cảnh quan đô thị.
Đối với các bệnh lý nhiễm trùng đường ruột do vi khuẩn như E. coli hay tụ cầu vàng, người bệnh cần đến các cơ sở y tế để được thăm khám, làm xét nghiệm và chỉ định phác đồ kháng sinh chuẩn mực từ bác sĩ. Tuyệt đối không trì hoãn điều trị y khoa để uống nước lá truyền miệng, tránh biến chứng viêm ruột hoại tử hoặc sốc nhiễm trùng nguy hiểm đến tính mạng. Khi muốn sử dụng bất kỳ dược liệu nào, hãy luôn tham khảo ý kiến của bác sĩ y học cổ truyền hoặc chuyên gia y tế có chuyên môn.






