Dây bánh nem là cái tên quen thuộc trong kho tàng cây cỏ dân gian, thường được người dân tìm kiếm với kỳ vọng bồi bổ sức khỏe hoặc điều trị bệnh lý. Nhiều người thắc mắc các nhà khoa học đã phân lập được những hoạt chất quý nào, đặc biệt là nhóm flavonoid hay alkaloid từ loại cây này. Tuy nhiên, các tư liệu phân tích thực nghiệm được cung cấp lại tập trung khảo sát các loài thuộc chi Callicarpa (tử châu) thay vì chi Bowringia.

Hiện chưa có dữ liệu nghiên cứu về chi Bowringia trong các tài liệu khoa học được cung cấp này. Dữ liệu hiện có ghi nhận chi tiết thành phần hóa học và hoạt tính sinh học từ các loài thực vật họ hàng thuộc chi Callicarpa như Callicarpa kochiana, Callicarpa kwangtungensis, Callicarpa peii, Callicarpa nudiflora và Callicarpa integerrima.

Nhầm lẫn thường gặp về tên gọi và phân loại thực vật

Trong y học cổ truyền và dân gian, việc sử dụng tên gọi địa phương rất dễ dẫn đến sự nhầm lẫn giữa các loài thực vật khác nhau. Người sử dụng thường mặc định dây bánh nem tương đương với các cây thuốc được thử nghiệm trong phòng thí nghiệm. Thực tế, dây bánh nem được gắn với chi Bowringia, một nhóm thực vật có đặc điểm giải phẫu và phân loại riêng biệt.

Trong khi đó, hệ thống tài liệu hóa thực vật hiện hành tập trung nghiên cứu chi Callicarpa [1]. Các nhà khoa học tìm thấy nhiều nhóm chất có giá trị sinh học cao trong các loài thuộc chi này, từ triterpenoid, flavonoid đến phenylethanoid glycoside [2], [3]. Việc đồng nhất hoạt tính của dây bánh nem với các kết quả nghiên cứu trên chi Callicarpa là chưa có cơ sở khoa học xác đáng.

Nhóm chất triterpenoid phong phú trong tự nhiên

Triterpenoid là một trong những nhóm hợp chất tự nhiên phổ biến nhất được phân lập thành công từ thực vật. Chúng thường đóng vai trò bảo vệ cấu trúc màng tế bào thực vật và có tiềm năng sinh học đa dạng trong thử nghiệm ống nghiệm.

Nghiên cứu công bố năm 2010 phân tích thành phần hóa học của cây Callicarpa kochiana [1]. Bằng phương pháp sắc ký và phân tích phổ, các nhà khoa học đã phân lập được 12 hợp chất, bao gồm alpha-amyrin, 2beta, 3beta, 19alpha-trihydroxy-12-en-28-ursolic acid, oleanolic acid, alpha-amyrin-3-O-beta-D-glucopyranoside, ursolic acid, betulinic acid, 2alpha, 3beta, 23-trihydroxy-12-en-28-oic-O-beta-D-glucopyranoside, o-hydroxybenzoic acid, pomolic acid, myrianthic acid, beta-sitosterol và dauricine [1]. Đáng chú ý, đây là lần đầu tiên các hợp chất này được tìm thấy trên loài cây này, trong đó có 6 chất lần đầu phân lập từ cả chi Callicarpa [1].

Một nghiên cứu khác năm 2014 khảo sát phần chiết xuất ethyl acetate từ loài Callicarpa kwangtungensis [4]. Các tác giả đã phân lập và xác định cấu trúc của 7 hợp chất thông qua sắc ký cột silica gel, Sephadex LH-20 và MPLC [4]. Các chất bao gồm caffeic acid, ferulic acid, (+)-isolariciresinol-9-O-beta-D-glucopyranoside cùng 4 dẫn xuất triterpenoid dạng glycoside gồm 2alpha,3alpha, 19alpha-trihydroxy-urs-12-en-28-O-beta-D-glucopyranoside; 2alpha,3, 19alpha-trihydroxy-olean-12-en-28-O-beta-D-glucopyranoside; 2alpha, 3alpha, 19alpha-trihydroxy-olean-12-en-28-O-beta-D-glucopyranoside và 2alpha, 3beta, 19alpha-trihydroxy-urs-12-en-28-O-beta-D-glucopyranoside [4].

Năm 2015, nghiên cứu tiếp tục thực hiện trên phân đoạn ethyl acetate của Callicarpa kwangtungensis ghi nhận thêm 11 hợp chất [5]. Cấu trúc được làm sáng tỏ gồm 4-methoxybenzoic acid, 3,4-dihydroxybenzoic acid, 4-hydroxy cinnamic acid, phenyl-beta-D-glucopyranoside, 3,4,5-trimethoxyphenyl-beta-D-glucopyranoside, 2alpha,3beta,22beta,23-tetrahydroxyursolic-12-en-28-oic acid, 2alpha,3beta,6beta,19alpha-tetrahydroxy-urs-12-en-28-O-beta-D-glucopyranoside, 2beta,3beta,6beta,16alpha-tetrahydroxy-olean-12-en-28-O-beta-D-glucopyranoside, (3S, 6E, 10R)-10-beta-D-glucopyranosyloxy-3,11-dihydroxy-3,7,11-trimethyldodeca-1,6-diene, icariside C5 và (2E, 6E)-10-beta-D-glucopyranosyl-1, 11-dihydroxy-3, 7, 11-trimethyldodeca-2,6-diene [5]. Trong số này, có 8 hợp chất lần đầu tiên được phân lập từ chi thực vật này [5].

Sự hiện diện của flavonoid và alkaloid

Nhiều người quan tâm tìm kiếm các dẫn xuất flavonoid chống oxy hóa hoặc alkaloid có hoạt tính mạnh. Trong các nghiên cứu phân lập thực vật này, nhóm flavonoid xuất hiện rải rác ở một số loài.

Một công bố năm 2013 nghiên cứu thành phần hóa học của loài Callicarpa peii bằng kỹ thuật sắc ký và phổ UV, IR, MS, 1H-NMR, 13C-NMR [2]. Nhóm nghiên cứu đã phân lập được 10 chất, ghi nhận sự có mặt của nhiều hợp chất nhóm flavone và flavonol như luteolin-7,4'-dimethylether, luteolin-3',4',7-trimethylether, luteolin-4'-methylether, hydnocarpin, luteolin và kaempferol-3-O-glucuronide, bên cạnh oleanolic acid, lyoniresinol 3alpha-O-beta-D-glucopyranoside và kelampayoside A [2]. Đây là công bố đầu tiên ghi nhận các dẫn xuất luteolin methyl hóa và glycoside này từ chi thực vật trên [2].

Nghiên cứu năm 2015 trên lá của cây Callicarpa nudiflora cũng thu được 11 hợp chất qua nhiều bước sắc ký cột [6]. Bên cạnh các dẫn xuất triterpene dạng acid và megastigman, các nhà khoa học đã phân lập được các flavonoid gồm isorhamnetin, philonotisflavone và luteolin-4'-O-(6"-E-caffeoyl)-beta-D-glucopyranoside [6]. Về nhóm alkaloid, duy nhất nghiên cứu trên cây Callicarpa kochiana ghi nhận sự hiện diện của hợp chất dauricine [1].

Thành phần tinh dầu trong lá

Bên cạnh các chất chiết xuất bằng dung môi hữu cơ phân cực, các hợp chất dễ bay hơi trong tinh dầu lá cũng được quan tâm nghiên cứu.

Nghiên cứu công bố năm 2010 đã sử dụng phương pháp sắc ký khí ghép khối phổ (GC-MS) để phân tích thành phần tinh dầu chiết từ lá cây Callicarpa integerrima [7]. Kết quả xác định được 42 thành phần hóa học, chiếm 97,62% tổng hàm lượng tinh dầu [7]. Thành phần chiếm tỷ lệ cao nhất là beta-caryophyllene đạt 33,74%, tiếp theo là elixene chiếm 12,86%, tau-cadinene chiếm 9,57% và (-)-spathulenol chiếm 8,99% [7]. Ngoài ra, một số chất nhóm sesquiterpene và oxit của chúng có hàm lượng đáng kể gồm copaene (4,21%), globulol (3,81%), alpha-caryophyllene (2,48%), 2-naphthalenemethanol decahydro-alpha,alpha,4a-trimethyl-8-methylene (2,37%) và 1,6-cyclodecadiene (2,24%) [7].

Tiềm năng sinh học và tác động đông máu

Tác dụng hỗ trợ cầm máu là hướng nghiên cứu sinh học nổi bật nhất được ghi nhận thực nghiệm trên các phân đoạn chiết xuất của nhóm thực vật này.

Nghiên cứu năm 2010 tiến hành khảo sát tác dụng cầm máu trong ống nghiệm của 11 hợp chất phân lập từ cây Callicarpa nudiflora trên mẫu máu thỏ [8]. Các tác giả đã thử nghiệm thời gian prothrombin (PT), thời gian thromboplastin từng phần hoạt hóa (APTT), thời gian thrombin (TT) và nồng độ fibrinogen (FIB) [8]. Các chất được thử nghiệm gồm diterpene (7alpha-hydroxy sandaracopimaric acid, 16,17-dihydroxy-3-oxophyllocladane), phenolic glycoside (acteoside, samioside), triterpene và flavone (rhamnazin, luteoloside cùng các dẫn xuất methoxyflavone) [8].

Kết quả cho thấy tất cả các hợp chất không rút ngắn đáng kể thời gian PT (với mức ý nghĩa thống kê p < 0,01) [8]. Tuy nhiên, các hợp chất acteoside, samioside, dẫn xuất triterpenoid ester và 5-hydroxy-3,7,3',4'-tetramethoxyflavone làm tăng rõ rệt giá trị APTT (p < 0,01) [8]. Một hợp chất triterpene acid kéo dài thời gian TT rõ rệt (p < 0,01), trong khi flavonoid rhamnazin làm tăng đáng kể nồng độ fibrinogen (FIB) trong huyết tương (p < 0,01) [8]. Nhóm nghiên cứu nhận định hoạt tính cầm máu của loài cây này có thể liên quan đến cơ chế hoạt hóa hệ thống đông máu nội sinh [8].

Năm 2023, một nghiên cứu chuyên sâu đã phân lập 15 hợp chất từ loài Callicarpa kwangtungensis, trong đó phát hiện 2 chất mới là 3-O-alpha-L-rhamnopyranosyl-6-O-beta-D-apiofuranosyl-4-O-E-caffeoyl-D-glucopyranoside và 3,6-O-alpha-L-dirhamnopyranosyl-4-O-E-caffeoyl-D-glucopyranoside [3]. Nghiên cứu cũng phân lập được các phenylethanoid glycoside như beta-OH-forsythoside B, beta-OH-poliumoside, acteoside, poliumoside, isacteoside và forsythoside B [3].

Sau đó, hoạt tính cầm máu được đánh giá trên mô hình động vật bằng cách đo thời gian chảy máu ở chóp đuôi chuột nhắt trắng [3]. Nghiên cứu sử dụng thuốc đối chứng dương là Vân Nam Bạch Dược và đối chứng âm là dung dịch nước muối sinh lý [3]. Kết quả thử nghiệm cho thấy dịch chiết toàn phần cùng hai thành phần dồi dào nhất là poliumoside và forsythoside B đã rút ngắn đáng kể thời gian chảy máu chóp đuôi ở chuột [3].

Giới hạn bằng chứng và những ai nên thận trọng

Mặc dù các dữ liệu phân tích hóa học và dược lý đem lại nhiều thông tin giá trị, người đọc cần nhìn nhận thận trọng về mặt khoa học. Toàn bộ các thử nghiệm cầm máu hay thay đổi chỉ số đông máu mới chỉ được tiến hành trên mẫu máu thỏ trong ống nghiệm hoặc trên mô hình đuôi chuột nhắt [3], [8]. Chưa có bất kỳ thử nghiệm lâm sàng nào được tiến hành trên người để chứng minh hiệu quả và độ an toàn của các hợp chất này.

Đặc biệt, chưa có dữ liệu nghiên cứu về chi Bowringia (dây bánh nem) trong số các tài liệu khoa học này. Người tiêu dùng tuyệt đối không tự ý gán ghép tác dụng cầm máu của các loài Callicarpa cho dây bánh nem để tự chữa bệnh.

Những người đang dùng thuốc chống đông máu, thuốc ức chế kết tập tiểu cầu hoặc người chuẩn bị phẫu thuật cần hết sức thận trọng, không tự ý dùng các loại dược liệu chưa rõ thành phần. Phụ nữ có thai, người đang cho con bú và trẻ nhỏ cũng là những đối tượng không nên tùy tiện sử dụng các bài thuốc truyền miệng khi chưa có kiểm chứng y khoa.

Gợi ý tiếp cận thực tế an toàn

Người dân khi quan tâm đến các loại cây cỏ dân gian như dây bánh nem cần kiểm chứng thông tin từ các nguồn tài liệu chính thống. Không nên thu hái cây mọc hoang dại vì nguy cơ nhầm lẫn loài thực vật chứa độc tính rất cao.

Khi cần sử dụng các bài thuốc thảo mộc hỗ trợ sức khỏe, lượng dùng chỉ nên ở mức độ vừa phải và cần có sự hướng dẫn trực tiếp từ bác sĩ chuyên khoa y học cổ truyền. Tuyệt đối không tự ý ngưng hay thay thế thuốc điều trị bệnh nền do bác sĩ chỉ định bằng các loại nước sắc thảo dược truyền miệng.

Nhìn chung, khoa học tự nhiên đã khám phá ra nhiều nhóm chất triterpenoid, flavonoid và phenylethanoid glycoside có hoạt tính hỗ trợ cầm máu trên động vật từ chi Callicarpa. Tuy nhiên, dữ liệu trên chi Bowringia (dây bánh nem) vẫn còn là khoảng trống khoa học cần thêm nghiên cứu. Việc tiếp cận cẩn trọng, dựa trên bằng chứng xác thực và tuân thủ tư vấn y tế luôn là nguyên tắc vàng để bảo vệ sức khỏe bản thân.