Nhiều người coi selen là dưỡng chất chống oxy hóa vượt trội, thường tìm mua các loại thực phẩm bổ sung liều cao để bồi bổ sức khỏe và phòng ngừa ung thư. Tuy nhiên, việc tự ý dùng khoáng chất này vượt ngoài nhu cầu tự nhiên lại tiềm ẩn những mối nguy khó lường đối với chuyển hóa đường huyết.

Các nghiên cứu dịch tễ học và thử nghiệm lâm sàng đã chỉ ra rằng nồng độ selen trong huyết thanh cao hoặc chế độ ăn quá giàu selen liên quan trực tiếp đến sự gia tăng nguy cơ mắc tiểu đường tuýp 2 [1, 2, 3]. Dù selen là vi chất thiết yếu, việc tích tụ quá nhiều khoáng chất này trong cơ thể gây tác động bất lợi đến chuyển hóa glucose và đề kháng insulin [2, 8].

Cơ chế sinh học: Vì sao chất chống oxy hóa lại làm tăng đường huyết?

Về mặt sinh lý học cơ bản, selen là thành phần cấu tạo chủ chốt của các selenoprotein. Các protein này đảm nhiệm nhiều chức năng enzym quan trọng như duy trì cân bằng oxy hóa khử, chuyển hóa hormon tuyến giáp, nâng cao hệ miễn dịch và chức năng sinh sản [1]. Trong các mô hình thực nghiệm ban đầu, selenat thể hiện đặc tính bắt chước hoạt động của insulin, khiến giới khoa học từng kỳ vọng selen sẽ giúp phòng ngừa tiểu đường tuýp 2 và bệnh tim mạch [1, 8].

Tuy nhiên, tác động sinh hóa trên người thực tế phức tạp hơn nhiều. Khi lượng selen dung nạp vượt quá ngưỡng tối ưu, các protein chứa selen lại gây ra tác dụng bất lợi đối với quá trình chuyển hóa glucose [2]. Nồng độ selen huyết thanh cao được ghi nhận có liên quan đến sự gia tăng các adipocytokine gây viêm như TNF-alpha, VCAM-1, leptin, FABP-4 và MCP-1 [3].

Bên cạnh đó, Selenoprotein P – một protein vận chuyển selen chính trong máu – đã được ghi nhận có mối liên hệ với adiponectin [3]. Sự biến đổi này gợi ý vai trò mới của Selenoprotein P trong chuyển hóa năng lượng tế bào, có thể là cơ chế dẫn đến kháng insulin và gia tăng nguy cơ tiểu đường tuýp 2 khi nồng độ chất này quá cao [3].

Các bằng chứng từ nghiên cứu thuần tập tại Ý

Mối liên hệ giữa lượng selen dung nạp qua đường ăn uống và nguy cơ tiểu đường đã được chứng minh qua hai nghiên cứu đoàn hệ lớn tại Ý. Nghiên cứu đoàn hệ ORDET công bố năm 2010 đã theo dõi 7.182 phụ nữ tại miền Bắc nước Ý, nơi có mức tiếp xúc selen ở mức trung bình [1]. Tiêu thụ selen qua khẩu phần ăn được đo bằng bảng câu hỏi tần suất thực phẩm bán định lượng, với mức nạp trung bình ban đầu là 55,7 microgam/ngày [1]. Sau thời gian theo dõi trung vị lên đến 16 năm, có 253 phụ nữ tiến triển thành bệnh tiểu đường [1].

Phân tích hồi quy logistic đa biến của nghiên cứu ORDET cho thấy nhóm có lượng selen ăn vào cao nhất (ngũ phân vị cao nhất) có nguy cơ mắc tiểu đường cao gấp 2,39 lần so với nhóm thấp nhất (KTC 95%: 1,32 - 4,32; p xu hướng tuyến tính = 0,005) [1]. Đáng chú ý, mỗi khi mức nạp selen tăng thêm 10 microgam/ngày, tỷ suất chênh (OR) mắc bệnh tiểu đường tăng thêm 1,29 lần (KTC 95%: 1,10 - 1,52) [1]. Kết quả này làm dấy lên hồi chuông cảnh báo về việc dung nạp selen vượt quá nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị 55 microgam/ngày [1].

Đến năm 2021, nghiên cứu thuần tập Moli-sani tại Ý tiếp tục củng cố phát hiện trên khi khảo sát 21.335 người trưởng thành không mắc tiểu đường ở thời điểm ban đầu [2]. Với mức tiêu thụ selen trung vị là 59 microgam/ngày, các nhà nghiên cứu ghi nhận 135 trường hợp phải nhập viện vì tiểu đường tuýp 2 sau thời gian theo dõi trung vị 8,2 năm [2]. Sử dụng mô hình rủi ro tỷ lệ Cox, tỷ số nguy cơ (HR) nhập viện vì tiểu đường ở tứ phân vị thứ hai, thứ ba và thứ tư so với tứ phân vị thứ nhất lần lượt là 1,01 (KTC 95%: 0,60 - 1,70), 1,13 (KTC 95%: 0,66 - 1,96) và 1,75 (KTC 95%: 0,99 - 3,10) [2].

Nguy cơ nhập viện vì tiểu đường ở tứ phân vị cao nhất tăng 64% so với ba nhóm còn lại gộp lại [2]. Phân tích đường cong hồi quy spline trong nghiên cứu này cũng chỉ ra sự gia tăng nguy cơ tiểu đường diễn ra dốc hơn, rõ nét hơn ở nam giới so với nữ giới [2].

Dữ liệu từ các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên và di truyền học

Nghi ngờ về tác hại của selen liều cao đối với chuyển hóa không chỉ dừng lại ở các nghiên cứu quan sát. Các thử nghiệm lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên lớn về phòng ngừa ung thư đã vô tình bộc lộ tác dụng phụ nghiêm trọng này [7, 8]. Thử nghiệm Phòng ngừa Ung thư bằng Dinh dưỡng (NPC) với liều bổ sung 200 microgam selen mỗi ngày trong 7,7 năm đã ghi nhận sự gia tăng nguy cơ mắc tiểu đường tuýp 2 ở những người tham gia có nồng độ selen huyết tương thuộc nhóm cao nhất ngay từ đầu nghiên cứu [3].

Tiếp đó, thử nghiệm SELECT theo dõi 35.533 nam giới tại Mỹ để đánh giá hiệu quả ngừa ung thư tuyến tiền liệt của selen và vitamin E [7, 8]. Kết quả cho thấy việc bổ sung không những không ngăn ngừa được bệnh mà còn làm tăng tỷ lệ mắc mới tiểu đường tuýp 2 ở nhóm dùng selen [7, 8]. Một thử nghiệm lâm sàng khác trên 1.202 bệnh nhân da liễu cũng xác nhận việc bổ sung selen làm tăng nguy cơ tiểu đường [4].

Mới đây nhất, một nghiên cứu năm 2024 sử dụng phương pháp ngẫu nhiên hóa Mendel (MR) dựa trên dữ liệu nghiên cứu liên kết toàn bộ bộ gen (GWAS) để tìm mối liên hệ nhân quả giữa 15 vi chất dinh dưỡng và bệnh tiểu đường [5]. Phân tích đa biến có hiệu chỉnh chỉ số khối cơ thể (BMI) và tăng huyết áp xác nhận lượng selen dung nạp làm tăng nguy cơ mắc tiểu đường tuýp 2 một cách độc lập, với tỷ suất chênh OR là 1,045 (KTC 95%: 1,009 - 1,082; p = 0,015) [5].

Nghiên cứu về mối liên quan giữa việc ăn cá và bệnh tiểu đường năm 2009 cũng củng cố giả thuyết này [4]. Khi hiệu chỉnh thêm các yếu tố như cholesterol, selen và vitamin D, nguy cơ tương đối ở nhóm ăn nhiều EPA và DHA nhất giảm đi rõ rệt sau khi kiểm soát lượng selen [4]. Do nồng độ selen huyết tương tăng theo lượng cá ăn vào, tác động tiêu cực của selen đối với bệnh tiểu đường có thể giải thích vì sao nhóm ăn nhiều cá và axit béo omega-3 trong nghiên cứu này lại có nguy cơ mắc bệnh cao hơn [4].

Ngưỡng an toàn và mối liên hệ liều lượng - đáp ứng

Một nghiên cứu tổng quan hệ thống và phân tích gộp liều lượng - đáp ứng vào năm 2021 đã tổng hợp dữ liệu từ 34 nghiên cứu phi thực nghiệm [6]. Bằng chứng dịch tễ cho thấy mối liên hệ trực tiếp giữa mức selen trong máu, trong khẩu phần ăn và trong nước tiểu với nguy cơ mắc tiểu đường [6]. Tuy nhiên, hàm lượng selen trong móng tay lại không phản ánh được mối liên hệ này do móng được xem là dấu ấn sinh học kém tin cậy hơn [6].

Mối liên hệ giữa selen và tiểu đường mang tính phi tuyến tính, trong đó nguy cơ bắt đầu tăng rõ rệt khi lượng selen trong khẩu phần ăn vượt quá 80 microgam/ngày [6]. Ở nồng độ selen trong máu toàn phần, huyết tương hoặc huyết thanh đạt mức 160 microgam/lít, tỷ số nguy cơ (RR) mắc tiểu đường là 1,96 (KTC 95%: 1,27 - 3,03) so với mức nồng độ 90 microgam/lít (tương đương mức ăn vào khoảng 60 microgam selen mỗi ngày) [6].

Mô hình chữ V hoặc chữ U về mối liên hệ giữa selen và tiểu đường cũng được ghi nhận ở nhiều quần thể khác nhau. Nghiên cứu năm 2024 trên 5.970 người trung niên và cao tuổi tại Trung Quốc (theo dõi trung bình 5,44 năm) phát hiện nguy cơ tiểu đường có dạng chữ V, với mức nguy cơ thấp nhất nằm ở mốc tiêu thụ khoảng 45 microgam/ngày [7]. Nguy cơ giảm dần khi lượng nạp tiến dần đến 45 microgam/ngày, nhưng sẽ tăng mạnh trở lại khi lượng tiêu thụ nằm trong khoảng từ 45 đến 100 microgam/ngày [7].

Tương tự, phân tích cắt ngang năm 2025 từ dữ liệu khảo sát NHANES (2011-2016) trên 2.170 người trưởng thành tại Mỹ cũng tìm thấy mối quan hệ hình chữ U giữa lượng selen ăn vào và nguy cơ tiểu đường (p phi tuyến tính = 0,042) [8]. Cả mức dung nạp quá thấp lẫn quá cao đều khiến nguy cơ bệnh lý tăng lên [8]. Đáng chú ý, ở phân nhóm người béo phì có chỉ số BMI từ 30 kg/m² trở lên, lượng selen ăn vào cao hơn lại liên quan nghịch với nguy cơ tiểu đường (p xu hướng = 0,016), cho thấy selen có thể phát huy tác dụng bảo vệ ở nhóm người đang chịu mức căng thẳng oxy hóa cao [8].

Lợi ích thực tế và những giới hạn của bằng chứng hiện có

Dù các bằng chứng cảnh báo nguy cơ tiểu đường khi thừa selen là rất rõ ràng, người dân không nên suy diễn rằng selen là chất gây hại cần phải loại bỏ hoàn toàn. Selen vẫn là một vi chất dinh dưỡng thiết yếu không thể thiếu cho chức năng miễn dịch, bảo vệ màng tế bào và hoạt động của tuyến giáp [1]. Vấn đề cốt lõi của selen nằm ở khoảng an toàn sinh học khá hẹp.

Tuy nhiên, người đọc cần nhìn nhận những giới hạn khoa học nhất định từ các nghiên cứu hiện tại:

  • Nhiều nghiên cứu dinh dưỡng dựa trên bảng câu hỏi tự nhớ hoặc phỏng vấn khẩu phần 24 giờ, có thể dẫn đến sai số đo lường về lượng thực phẩm tiêu thụ thực tế [1, 2, 5].
  • Đa phần các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên trước đây chỉ sử dụng một liều cố định duy nhất là 200 microgam selen/ngày, chưa giúp làm rõ được ranh giới chính xác giữa mức liều có lợi và mức liều gây hại chuyển hóa [6].
  • Nghiên cứu cắt ngang NHANES không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê đối với selen từ viên uống bổ sung đơn lẻ hoặc tổng lượng selen [8]. Do đó, các nghiên cứu can thiệp theo chiều dọc vẫn cần được thực hiện thêm để xác định chính xác mối quan hệ nhân quả trên từng nhóm dân số cụ thể [4, 6].

Những hiểu lầm thường gặp về việc bổ sung selen

Nhiều người lầm tưởng rằng chất chống oxy hóa càng nạp nhiều vào cơ thể thì càng tốt cho sức khỏe và giúp làm chậm lão hóa. Thực tế sinh hóa cho thấy các phản ứng oxy hóa khử cần sự cân bằng tinh tế; việc dư thừa chất chống oxy hóa có thể đảo ngược tác dụng và làm xáo trộn quá trình chuyển hóa tế bào [1, 8].

Một ngộ nhận phổ biến khác là uống viên selen liều cao để phòng ngừa ung thư và hỗ trợ phòng bệnh tiểu đường. Bằng chứng thực nghiệm từ thử nghiệm SELECT và NPC cho thấy việc bổ sung liều 200 microgam/ngày không có hiệu quả ngừa ung thư tuyến tiền liệt mà ngược lại còn làm gia tăng số ca mắc mới tiểu đường tuýp 2 [7, 8]. Tự ý sử dụng thực phẩm chức năng chứa selen liều cao khi chưa xét nghiệm thiếu hụt là việc làm tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Nhóm đối tượng nào cần đặc biệt thận trọng?

Dựa trên dữ liệu dịch tễ, những nhóm đối tượng sau cần lưu ý kiểm soát mức selen dung nạp hàng ngày:

  • Người có nguy cơ cao mắc bệnh tiểu đường hoặc đã có tình trạng tiền tiểu đường, kháng insulin: Không nên tự ý uống thêm các thực phẩm bổ sung selen vì có thể thúc đẩy tiến triển bệnh nhanh hơn [3, 8].
  • Nam giới: Phân tích cho thấy nam giới có xu hướng tăng nguy cơ nhập viện vì tiểu đường dốc hơn nữ giới khi tiêu thụ selen liều cao [2].
  • Người sống tại các khu vực có thổ nhưỡng giàu selen hoặc có chế độ ăn đã cung cấp đủ selen: Việc dùng thêm viên bổ sung tổng hợp là hoàn toàn không cần thiết [1, 3].
  • Trường hợp ngoại lệ cần lưu ý: Người có chỉ số BMI từ 30 kg/m² trở lên có thể có nhu cầu chuyển hóa khác biệt, do nghiên cứu ghi nhận mức nạp cao hơn có mối liên hệ nghịch với nguy cơ tiểu đường ở nhóm béo phì này [8]. Dù vậy, nhóm đối tượng này vẫn cần tham khảo ý kiến chuyên môn của bác sĩ trước khi thay đổi chế độ dinh dưỡng [8].

Khuyến nghị áp dụng thực tế trong sinh hoạt hàng ngày

Để nhận đủ lợi ích miễn dịch của selen mà không đối mặt với nguy cơ kháng insulin, người dân nên ưu tiên cân đối dinh dưỡng tự nhiên:

  • Lượng khuyến nghị hợp lý: Duy trì mức dung nạp selen từ chế độ ăn xung quanh mức khuyến nghị chuẩn (khoảng 45 đến 55 microgam/ngày) [1, 5]. Tránh để khẩu phần ăn vượt qua ngưỡng 80 microgam/ngày trong thời gian dài nếu không có chỉ định y khoa [6].
  • Cân bằng nguồn thực phẩm: Selen có nhiều trong các loại cá, hải sản, thịt gia cầm, ngũ cốc nguyên hạt và các loại hạt. Tuy nhiên, việc ăn quá nhiều cá giàu chất béo hoặc tiêu thụ quá mức hải sản có thể vô tình làm tăng nồng độ selen trong huyết tương lên mức bất lợi [4]. Nên đa dạng hóa các nguồn đạm thực vật và động vật.
  • Thận trọng với viên uống tổng hợp: Kiểm tra kỹ nhãn thành phần của các loại vitamin tổng hợp. Tránh sử dụng cùng lúc nhiều loại thực phẩm bổ sung có chứa selen liều cao (từ 100 đến 200 microgam/ngày) kéo dài mà không có xét nghiệm nồng độ selen máu định kỳ [3, 8].

Duy trì lối sống lành mạnh, ăn uống đa dạng thực phẩm tự nhiên và kiểm soát cân nặng vẫn là nền tảng vững chắc nhất để phòng ngừa tiểu đường tuýp 2. Người có bệnh lý nền hoặc đang điều trị rối loạn đường huyết cần trao đổi với bác sĩ chuyên khoa hoặc chuyên gia dinh dưỡng trước khi quyết định sử dụng bất kỳ loại thực phẩm bổ sung vi chất nào.